Ảnh bìa The Train Stopped at the Border

The train had been creeping toward the border for most of the night when it stopped altogether, somewhere between two stations that Dalibor couldn't see. The lights flickered once and steadied. A tired voice on the speaker announced a technical fault and promised more news in twenty minutes.

Con tàu đã lết dần về phía biên giới gần suốt đêm thì dừng hẳn, ở đâu đó giữa hai ga mà Dalibor không nhìn thấy. Đèn chớp một lần rồi sáng đều trở lại. Một giọng nói mệt mỏi trên loa báo có sự cố kỹ thuật và hứa sẽ thông báo thêm sau hai mươi phút.

The news did not come in twenty minutes. It did not come in sixty. By then the corridor had filled with passengers leaning against the windows, and Dalibor had given up on his book. He was sharing a compartment with a single stranger, a woman in a green coat who had been asleep since he boarded.

Hai mươi phút trôi qua, tin tức không đến. Sáu mươi phút cũng vậy. Lúc ấy hành lang đã đầy hành khách tựa vào cửa sổ, còn Dalibor thì bỏ cuốn sách từ lâu. Anh ngồi chung toa với một người lạ duy nhất, một phụ nữ mặc áo khoác xanh lá, đã ngủ từ lúc anh lên tàu.

She woke around two, looked at the dark window and asked what had happened.

Khoảng hai giờ sáng, cô tỉnh dậy, nhìn ra khung cửa sổ tối đen và hỏi chuyện gì đã xảy ra.

"A technical fault, they say."

"Nghe nói là sự cố kỹ thuật."

"They always say that," she replied. "It's their favorite fault."

"Lúc nào họ cũng nói thế," cô đáp. "Đó là sự cố họ yêu thích nhất."

They sat in silence for a while. Then her stomach made a noise that both of them pretended not to hear. Dalibor, who had packed for a journey of six hours and not for a siege, opened his bag. He had a hunk of hard cheese, a packet of rye crackers and an apple that had been rolling around since morning.

Họ ngồi im lặng một lúc. Rồi bụng cô kêu lên một tiếng mà cả hai đều giả vờ không nghe thấy. Dalibor, người chuẩn bị đồ cho chuyến đi sáu tiếng chứ không phải cho một cuộc vây hãm, mở túi ra. Anh có một khúc phô mai cứng, một gói bánh quy lúa mạch đen và một quả táo đã lăn lóc từ sáng.

"I can offer you the cheese," he said. "The apple is a security risk."

"Tôi có thể mời cô phô mai," anh nói. "Còn quả táo thì là mối nguy an ninh."

She laughed, and took a small tin of dried apricots from her pocket. "Fair exchange," she said.

Cô bật cười, rồi lấy từ túi áo ra một hộp thiếc nhỏ đựng mơ sấy. "Trao đổi công bằng," cô nói.

Over the next hour, they learned each other's reasons for traveling. He was on his way to meet his newborn nephew, whom the entire family had already described as "very serious." She repaired old clocks, and a small town was paying her to wake up the one in its station tower after thirty years of silence.

Trong một giờ sau đó, họ biết được lý do đi đường của nhau. Anh đang trên đường đến gặp đứa cháu trai mới sinh, đứa bé mà cả nhà đã tả là "rất nghiêm nghị". Cô sửa đồng hồ cổ, và một thị trấn nhỏ đang trả tiền để cô đánh thức chiếc đồng hồ trên tháp nhà ga của họ, sau ba mươi năm im lặng.

"What if you can't fix it?" Dalibor asked.

"Nếu cô không sửa được thì sao?" Dalibor hỏi.

"Then I will have been paid to be sad in a pleasant place," she said. "There are worse jobs."

"Thì tôi được trả tiền để buồn ở một nơi dễ chịu," cô nói. "Có những công việc tệ hơn nhiều."

Outside, a pale line appeared along the horizon. A guard walked past with a flashlight, and somewhere ahead a door slammed. Dalibor checked his watch. The woman checked hers. They were an hour apart.

Bên ngoài, một vệt sáng nhạt hiện lên dọc chân trời. Một nhân viên tàu cầm đèn pin đi ngang qua, và ở đâu đó phía trước có tiếng cửa đóng sầm. Dalibor xem đồng hồ. Cô cũng xem đồng hồ của mình. Hai chiếc lệch nhau một tiếng.

"Border time," she said. "We have been sitting between two clocks all night, and neither of them wants us. If I were in charge of the border, I would put a clock in the middle, set to nobody's time."

"Giờ biên giới," cô nói. "Chúng ta ngồi giữa hai chiếc đồng hồ suốt đêm, và chẳng chiếc nào muốn nhận chúng ta. Nếu tôi phụ trách biên giới, tôi sẽ đặt một chiếc đồng hồ ở giữa, chỉnh theo giờ của không ai cả."

They talked about that for a long while, starting with the clock in the middle. Did a person belong to the place they had left, or to the place they were heading for? She said she had been moving between towns for eleven years and had never stayed long enough to be asked a hard question. He admitted that he had spent the whole journey afraid of holding the baby wrongly.

Họ nói về chuyện đó rất lâu, bắt đầu từ chiếc đồng hồ ở giữa. Một người thuộc về nơi mình đã rời đi, hay nơi mình đang hướng tới? Cô kể rằng mình đã chuyển từ thị trấn này sang thị trấn khác suốt mười một năm và chưa bao giờ ở lại đủ lâu để bị hỏi một câu khó. Anh thú nhận rằng cả chặng đường anh đã lo sợ mình sẽ bế em bé sai cách.

"You will hold him wrongly, and he will forgive you," she said. "Babies are surprisingly flexible about it."

"Anh sẽ bế sai thôi, và thằng bé sẽ tha thứ cho anh," cô nói. "Trẻ sơ sinh dễ tính đến ngạc nhiên về chuyện đó."

By four, the sky had turned the color of weak tea. The apricot tin was empty, the crackers were gone. Dalibor had been laughing for ten minutes at something she had said about customs officers and their stamps.

Đến bốn giờ, bầu trời đã chuyển sang màu trà nhạt. Hộp mơ sấy đã cạn, bánh quy cũng hết. Dalibor đã cười suốt mười phút vì điều cô nói về các nhân viên hải quan và những con dấu của họ.

Then the train gave a long groan, as if waking from the same sleep. Something clanked beneath the floor. Dalibor felt it first in his spine and then in his teeth, and the lights of the platform began to slide slowly past the window.

Rồi con tàu rền lên một tiếng dài, như thể thức dậy sau cùng một giấc ngủ. Có thứ gì đó lọc cọc dưới sàn. Dalibor cảm nhận nó trước tiên ở xương sống rồi đến hàm răng, và ánh đèn sân ga bắt đầu trượt chầm chậm qua khung cửa sổ.

"We're moving," the woman said. Neither of them reached for a book. She was still halfway through her sentence when the train gathered speed, and Dalibor leaned forward to hear the rest of it.

"Chúng ta đang chạy rồi," người phụ nữ nói. Không ai trong hai người với tay lấy sách. Cô còn đang nói dở câu thì tàu tăng tốc, và Dalibor rướn người về phía trước để nghe nốt phần còn lại.

🧠 Kiểm tra hiểu bài

  1. Why does the train stop?

    Xem đáp án

    Đáp án: A technical fault

    The speaker announces a technical fault.

  2. What do the two travelers notice about their watches?

    Xem đáp án

    Đáp án: They are an hour apart

    The woman calls it border time, because their watches are an hour apart.

  3. What is the woman's job?

    Xem đáp án

    Đáp án: She repairs old clocks

    She has been paid to repair the clock in a town's station tower.

Thích truyện này? Nghe trọn bộ và tra từ bất kỳ trong app

  • Chạm vào từ bất kỳ để xem nghĩa
  • Nghe trọn bộ mọi truyện và đọc offline
  • Ôn từ vựng, luyện phát âm và làm quiz
Tải trên Google Play