The Reconstructed Birdsong
Một truyện tiếng Anh miễn phí trình độ C1 cho người học, đọc trực tuyến bằng 5 ngôn ngữ, có thể nghe qua ứng dụng Storyteller miễn phí.
An archivist must decide how to label an AI-built song for a bird that no one has heard for forty years.
Hết phần nghe thử! Nghe trọn truyện trong ứng dụng Storyteller miễn phí. Tải app
Hiện chưa thể phát audio.
Meike has eleven recordings of the glass-throated reedfinch and no way to make them into one. The longest runs four seconds. The shortest is a single note, caught by accident on a tape meant for frogs. The bird has been extinct for forty years. Meike's job at the sound archive is to give each fragment a number, a date and a microphone, and then to file it in a database that stands in for a shelf.
Meike có mười một bản ghi âm chim sẻ lau họng thủy tinh và không có cách nào ghép chúng thành một. Bản dài nhất kéo dài bốn giây. Bản ngắn nhất chỉ là một nốt, vô tình bắt được trên cuộn băng vốn dành cho ếch. Loài chim này đã tuyệt chủng bốn mươi năm. Công việc của Meike ở kho lưu trữ âm thanh là gán cho mỗi mảnh một con số, một ngày tháng và một micro, rồi xếp nó vào một cơ sở dữ liệu thay cho một cái kệ.
On Monday the lab upstairs sends her a file. Zuzana, the engineer who leads the project, has trained a model on the eleven fragments and on the songs of the bird's closest living relatives. The result, according to the cover note, is "a plausible full song." It lasts forty-one seconds. Meike listens through headphones with her eyes closed, and by the third phrase she has stopped breathing. It is exactly what she has imagined for twenty years: a rising run of notes, a pause like a held door, a falling answer.
Thứ Hai, phòng thí nghiệm trên lầu gửi cho cô một tệp. Zuzana, kỹ sư trưởng dự án, đã huấn luyện một mô hình bằng mười một mảnh ấy và bằng tiếng hót của những họ hàng gần nhất còn sống của loài chim. Kết quả, theo ghi chú đi kèm, là "một bài hát đầy đủ có thể tin được". Nó dài bốn mươi mốt giây. Meike nghe qua tai nghe với đôi mắt nhắm, và đến cụm thứ ba cô đã quên thở. Nó đúng y như thứ cô đã tưởng tượng suốt hai mươi năm: một chuỗi nốt đi lên, một quãng nghỉ như cánh cửa được giữ mở, một câu đáp đi xuống.
What unsettles her is how little it unsettles her. Nothing in it sounds invented.
Điều làm cô bất an là cô hầu như không bất an. Không có gì trong đó nghe như bịa đặt.
"Would it fool you?" Zuzana asks over the phone, hopeful and a little out of breath. "Be honest."
"Chị có bị lừa không?" Zuzana hỏi qua điện thoại, đầy hy vọng và hơi hụt hơi. "Nói thật đi."
"It would fool anyone. That's not the same as being right."
"Nó sẽ lừa được bất kỳ ai. Nhưng thế không có nghĩa là đúng."
"Every fragment we have is in there. The model only fills the gaps."
"Mọi mảnh chúng ta có đều nằm trong đó. Mô hình chỉ lấp các khoảng trống."
"Between what and what?" Meike says. "Four seconds is a fact. Forty-one seconds is a very elaborate opinion."
"Giữa cái gì và cái gì?" Meike nói. "Bốn giây là một sự thật. Bốn mươi mốt giây là một ý kiến rất công phu."
There is a short silence on the line. Then Zuzana, more gently than Meike expected, explains what the museum wants: a species page with a sound on it, something a schoolchild can press and hear. Nobody, she says, wants to press a button and get four seconds of hiss and a squeak. She does not say that the funding review is in March. She does not need to.
Đường dây im lặng một lúc ngắn. Rồi Zuzana, nhẹ nhàng hơn Meike nghĩ, giải thích điều bảo tàng muốn: một trang về loài với một âm thanh trên đó, thứ một đứa trẻ đi học có thể bấm và nghe. Cô nói chẳng ai muốn bấm nút và nhận bốn giây tiếng xì xì với một tiếng kêu chít. Cô không nói rằng đợt xét duyệt kinh phí là vào tháng Ba. Cô không cần nói.
Meike takes off the headphones and sits for a while with the file open on the screen. Rarely has she cared this much about a single word on a form. The archive's record has a field called Type, and the menu beside it offers two choices, and the distance between them is the whole of her profession. Had anyone been listening properly in that marsh, with a good microphone and a little luck, the bird might have given them the entire song. Then she would not be having this conversation. But nobody was, and the song that exists now exists because someone upstairs was patient and clever and kind.
Meike gỡ tai nghe và ngồi một lúc với tệp mở trên màn hình. Hiếm khi cô quan tâm nhiều đến thế về một chữ duy nhất trên biểu mẫu. Hồ sơ của kho lưu trữ có một trường tên Loại, và trình đơn bên cạnh đưa ra hai lựa chọn, và khoảng cách giữa chúng là toàn bộ nghề nghiệp của cô. Nếu có ai lắng nghe đàng hoàng ở cái đầm lầy ấy, với một chiếc micro tốt và chút may mắn, loài chim có lẽ đã cho họ trọn bài hát. Khi đó cô đã không có cuộc trò chuyện này. Nhưng chẳng ai ở đó, và bài hát tồn tại bây giờ tồn tại vì ai đó ở trên lầu đã kiên nhẫn, thông minh và tử tế.
It would be easy to hate the file. She finds she cannot. It is an act of love, she thinks, performed by something that has never loved anything, and both halves of that sentence are true.
Sẽ dễ để ghét cái tệp. Cô thấy mình không thể. Đó là một hành động của tình yêu, cô nghĩ, được thực hiện bởi thứ chưa từng yêu điều gì, và cả hai nửa của câu ấy đều đúng.
She selects Reconstruction. In the notes field she types the number of source fragments, their total length in seconds, the date of the training run, and the name of the model, which takes longer than the rest. Then she types, in a smaller line underneath, a sentence about what the file cannot tell us. She saves the record and sits back.
Cô chọn Tái tạo. Trong ô ghi chú cô gõ số mảnh nguồn, tổng độ dài của chúng tính bằng giây, ngày chạy huấn luyện, và tên của mô hình, việc này mất thời gian hơn phần còn lại. Rồi, ở một dòng nhỏ hơn bên dưới, cô gõ một câu về điều tệp này không thể cho chúng ta biết. Cô lưu hồ sơ và ngả người ra sau.
The evening cleaner has reached her door with his cart. He stops, one hand on the bin, head tilted toward the speakers she has forgotten to turn off.
Người dọn dẹp buổi tối đã đẩy xe tới cửa phòng cô. Ông dừng lại, một tay đặt trên thùng rác, nghiêng đầu về phía loa mà cô quên tắt.
"Is that the real one?" he asks.
"Đó có phải tiếng thật không?" ông hỏi.
"Part of it," Meike says, and turns the volume up for him.
"Một phần," Meike nói, và vặn to âm lượng cho ông.






