Storyteller

The Miraculous Hen

A free B2-level English story for language learners, readable online in 7 languages, with an option to listen via the free Storyteller app.

Level
B2
Genres
folklore, fairy-tale
Reading time
14 min
Languages available
EN, VI, ES, ZH, PT, HI, ID
The Miraculous Hen cover

A poor old couple's hen begins laying jewels instead of eggs — a secret so precious it draws betrayal at home and sends two brothers on a perilous quest for kingdoms, magic, and revenge.

Beyond thrice-nine lands, in the thrice-tenth realm—it was not in our kingdom—once an old man and an old woman lived in great need and poverty. They had two sons, who were very young and as yet of no use for field work. So the old man got up himself, and himself did all the work; he went out and looked after the labourers, and for all that he could only earn a few pence.

Bên kia chín lần chín vùng đất, ở vương quốc thứ chín mươi—không phải xứ sở của chúng ta—ngày xưa có một ông lão và một bà lão sống trong cảnh túng thiếu, nghèo khổ. Họ có hai người con trai, còn rất nhỏ và chưa làm được việc đồng áng. Vì vậy chính ông lão phải tự mình đứng dậy làm việc; ông đi ra ngoài, trông coi các công nhân, nhưng dù vậy ông chỉ kiếm được vài đồng xu.

As he was going home one day he met a sorry drunkard, who had a hen in his hands. “Will you, old man, buy my hen?”

Trên đường về nhà một hôm, ông gặp một gã say rượu khốn khổ, tay đang cầm một con gà mái. "Ông già ơi, ông có mua con gà của tôi không?"

“What do you want for it?”

"Anh muốn bán bao nhiêu?"

“Give me fifty kopeks for it.”

"Cho tôi năm mươi kopek."

“No, brother; take these few pence—that will be enough for you; you will get a pint and can drink it out on your way home and go to sleep.”

"Không, anh bạn; cầm lấy mấy đồng xu này—thế là đủ cho anh rồi; anh sẽ mua được một panh rượu và uống hết trên đường về nhà rồi đi ngủ."

So the drunkard took the pence and gave the old man the hen.

Thế là gã say rượu nhận tiền xu và đưa con gà cho ông lão.

Then the old man returned home. But they were very hungry there; there was not a crust of bread. “Here,” he said, as he came in, to his wife, “here is a hen I have bought you.”

Rồi ông lão trở về nhà. Nhưng ở nhà mọi người đang rất đói; không còn một mẩu bánh mì nào cả. "Đây," ông nói khi bước vào, với vợ mình, "đây là con gà tôi mua cho bà đây."

But his wife turned on him fiercely and scolded him. “What an old fool you are! You must have gone utterly mad: our children are sitting down at home without any bread, and you buy a hen which you must feed!”

Nhưng vợ ông nổi giận và mắng ông thậm tệ. "Ông thật là một lão già ngốc nghếch! Ông chắc hẳn đã mất trí hoàn toàn rồi: con cái chúng ta đang ngồi ở nhà không có lấy một mẩu bánh, mà ông lại đi mua một con gà để nuôi báo cô!"

“Hold your tongue, foolish woman; does a hen eat so much? Why, she will lay us an egg and will bring us chicks; we can sell the chicks and then buy bread.”

"Im miệng đi, bà đàn bà ngu ngốc; con gà ăn được bao nhiêu chứ? Này, nó sẽ đẻ trứng cho chúng ta và cho ta gà con; chúng ta có thể bán gà con rồi mua bánh mì."

So the old man made a little nest and he put the hen under the stove. In the morning he looked, and the hen had laid a jewel of absolutely natural colours. So the old man said to his wife, “Now, old lady; amongst other folks the hens lay eggs, but our hen lays jewels: what shall we do?”

Thế là ông lão làm một cái ổ nhỏ và đặt con gà dưới bếp lò. Sáng hôm sau ông nhìn vào, thấy con gà đã đẻ ra một viên đá quý có màu sắc hoàn toàn tự nhiên. Ông lão liền nói với vợ mình, "Này, bà lão ơi; người ta thì gà đẻ trứng, nhưng gà nhà mình lại đẻ ra đá quý: chúng ta phải làm gì đây?"

“Take it into the city; possibly somebody may buy it.”

"Mang nó vào thành phố; có lẽ ai đó sẽ mua nó."

So the old man went into the city, went into all the inns by turns and showed his precious stone. All the merchants gathered round him and began valuing the stone. They valued it and valued it, and it was at last bought for five hundred roubles.

Thế là ông lão vào thành phố, lần lượt vào tất cả các quán trọ và cho xem viên đá quý của mình. Tất cả các thương nhân xúm lại quanh ông và bắt đầu định giá viên đá. Họ định giá đi định giá lại, và cuối cùng nó được mua với giá năm trăm rúp.

From that day the old man went on trading in precious stones which his hen laid him, and he very soon became enriched, had himself inscribed into the merchants’ guild, put up a shop, hired apprentices, and set up seafaring ships to carry his wares into foreign lands. One day he was going into foreign parts, and he bade his wife have a great heed to the hen: “Treasure her more than your eyes; should she be lost, you shall forfeit your own head.”

Từ ngày đó, ông lão tiếp tục buôn bán những viên đá quý mà con gà của ông đẻ ra, và ông nhanh chóng trở nên giàu có, tự ghi tên mình vào phường thương gia, mở một cửa hàng, thuê học việc, và đóng những con tàu đi biển để chở hàng hóa của mình sang các xứ ngoại quốc. Một ngày nọ ông chuẩn bị đi sang xứ ngoại quốc, ông dặn vợ mình phải hết sức để ý đến con gà: "Hãy quý nó hơn cả đôi mắt của bà; nếu nó mà mất, bà sẽ phải mất đầu đấy."

As soon as he had gone the old woman began to think evil thoughts. For she was great friends with one of the young apprentices.

Ngay khi ông vừa đi khỏi, bà lão bắt đầu nảy sinh những ý nghĩ xấu xa. Vì bà rất thân thiết với một trong những chàng học việc trẻ.

“Where do you get these precious stones from?” the apprentice asked her.

"Bà lấy những viên đá quý này ở đâu vậy?" chàng học việc hỏi bà.

“Oh, it is our hen that lays them.”

"Ồ, chính con gà của chúng ta đẻ ra chúng đấy."

So the apprentice took the hen, looked, and under the right wing he saw written in gold: “Whoever eats this hen’s head shall become a king, and whoever eats her liver shall spit out gold.”

Thế là chàng học việc bắt lấy con gà, nhìn vào, và dưới cánh phải anh ta thấy chữ vàng viết: "Ai ăn đầu con gà này sẽ trở thành vua, và ai ăn gan nó sẽ nhổ ra vàng."

So he told the wife, “Bake me the hen for supper.”

Thế là anh ta nói với người vợ, "Hãy nướng con gà này cho tôi ăn tối."

“Oh, my dear friend, how can I? My husband will be coming back and will punish me.”

"Ôi, bạn thân mến, sao tôi có thể làm vậy được? Chồng tôi sẽ về và trừng phạt tôi mất."

But the apprentice would not listen to any argument. “Bake it,” he said—that was all.

Nhưng chàng học việc không nghe bất cứ lý lẽ nào cả. "Nướng nó đi," anh ta nói—chỉ vậy thôi.

The next day the old woman got supper ready, made ready to twist the hen’s neck and to roast it for supper with the head and the liver. The cook twisted the hen’s neck and put her into the oven, and himself went out. But in that time the two little children of the house, who were at school, ran in, looked into the oven, and wanted to nibble. The elder brother ate the head and the youngest ate the liver.

Ngày hôm sau, bà lão chuẩn bị bữa tối, sửa soạn vặn cổ con gà và nướng nó cho bữa tối cùng với đầu và gan. Người đầu bếp vặn cổ con gà và cho nó vào lò, rồi tự mình đi ra ngoài. Nhưng lúc đó hai đứa con nhỏ trong nhà, đang ở trường học, chạy về, nhìn vào lò, và muốn nếm thử. Người anh ăn cái đầu và đứa em út ăn gan.

When supper-time came, the hen was put on the table, but when the apprentice saw that both the head and the liver were missing he was very angry, quarrelled with the old woman and went home. The old woman followed him and wheedled, but he still insisted: “You bring your children, take their liver out and brains, and give them me for supper; otherwise I will have nothing to do with you.”

Khi đến giờ ăn tối, con gà được đặt lên bàn, nhưng khi chàng học việc thấy cả đầu lẫn gan đều đã biến mất, anh ta vô cùng tức giận, cãi vã với bà lão rồi bỏ về nhà. Bà lão chạy theo dỗ dành anh ta, nhưng anh ta vẫn khăng khăng: "Bà hãy đưa con bà đến đây, lấy gan và óc của chúng ra, rồi mang cho tôi ăn tối; nếu không tôi sẽ chẳng còn liên quan gì đến bà nữa."

So the old woman put her children to bed, called the cook and bade him take them whilst they were asleep into the wood, there kill them and extract their liver and their brains and get them ready for supper. The cook took the children into the slumbrous forest, stopped, and made ready to whet the knife.

Thế là bà lão cho các con đi ngủ, gọi người đầu bếp và bảo anh ta đưa chúng, trong lúc chúng đang ngủ, vào rừng, giết chúng ở đó và lấy gan và óc của chúng ra để chuẩn bị cho bữa tối. Người đầu bếp đưa hai đứa trẻ vào khu rừng im lìm, dừng lại, và chuẩn bị mài dao.

The boys woke up and asked, “Why are you sharpening the knife?”

Hai cậu bé tỉnh dậy và hỏi, "Sao bác lại mài dao vậy?"

“Because your mother has bidden me take out your liver and brains and cook them.”

"Vì mẹ các cháu đã bảo bác lấy gan và óc các cháu ra để nấu."

“Oh, grandfather, little dove, do not slay us; we will give you all the gold you desire, only pity us and let us free.” So the younger brother filled his skirt with gold, and the cook was contented with this and he set them free.

"Ôi, ông ơi, chim bồ câu nhỏ ơi, xin đừng giết chúng cháu; chúng cháu sẽ cho ông tất cả vàng ông muốn, chỉ xin ông thương xót và thả chúng cháu ra." Thế là người em đổ đầy vạt áo vàng, và người đầu bếp hài lòng với điều đó nên thả chúng đi.

So the boys went forth into the forest and he turned back. Fortunately for him a bitch came his way, so he took her two puppies, took their livers and brains, roasted them and gave them for supper. The apprentice was very pleased with the dish, swallowed it all, and became neither a king nor a king’s son, but simply a fool.

Thế là hai cậu bé đi vào rừng còn anh ta quay trở lại. May mắn cho anh ta, một con chó cái đi ngang qua, nên anh ta bắt lấy hai con chó con của nó, lấy gan và óc của chúng, nướng lên và mang ra cho bữa tối. Chàng học việc rất hài lòng với món ăn, nuốt hết sạch, và không trở thành vua cũng chẳng thành hoàng tử, mà chỉ đơn giản trở thành một kẻ ngốc.

The boys went out of the wood on the broad road, and went whither their eyes gazed—maybe far, maybe short, they went. Soon the road divided into two, and a column stood there, and on the column it was written:

Hai cậu bé đi ra khỏi rừng trên con đường rộng, và đi theo hướng mắt chúng nhìn thấy—có thể xa, có thể gần, chúng cứ đi. Chẳng bao lâu con đường chia làm hai, và có một cây cột đứng đó, trên cột viết:

“WHO GOES TO THE RIGHT SHALL RECEIVE A KINGDOM, WHO GOES TO THE LEFT SHALL RECEIVE MUCH OF EVIL AND OF GRIEF, BUT HE SHALL MARRY A FAIR PRINCESS.”

"AI ĐI SANG PHẢI SẼ NHẬN ĐƯỢC MỘT VƯƠNG QUỐC, AI ĐI SANG TRÁI SẼ GẶP NHIỀU ĐIỀU XẤU VÀ ĐAU KHỔ, NHƯNG SẼ CƯỚI ĐƯỢC MỘT NÀNG CÔNG CHÚA XINH ĐẸP."

So the brothers considered this inscription, and decided to go in different directions; the elder went to the right and the younger to the left.

Thế là hai anh em suy nghĩ về dòng chữ này, và quyết định đi theo hai hướng khác nhau; người anh đi sang phải và người em đi sang trái.

The elder went on and on, and soon came to an unknown capital city. He also saw a mass of people, only they were all mourning and sad. So he begged shelter of a poor old widow. “Will you protect,” he said, “a foreigner from the dark night?”

Người anh đi mãi, đi mãi, và chẳng bao lâu đến một kinh đô xa lạ. Cậu cũng thấy một đám đông người, chỉ có điều tất cả đều đang than khóc và buồn bã. Thế là cậu xin trú chân ở nhà một bà góa nghèo. "Bà có thể che chở," cậu nói, "cho một người lạ qua đêm tối không?"

“I should be very glad to have you,” she said, “but I cannot put you anywhere, I am so closely packed.”

"Ta rất vui lòng cho con ở," bà nói, "nhưng ta không thể sắp xếp chỗ nào cho con cả, nhà ta chật chội quá."

“Do let me in, bábushka; I am such a simple youth, just as you are; you can find me some small space, some kind of nook for the night.”

"Xin cho con vào, bà ơi; con chỉ là một chàng trai giản dị, giống như bà thôi mà; bà có thể tìm cho con một khoảng nhỏ, một góc nào đó để ngủ qua đêm thôi."

So the old woman admitted him, and they began to speak.

Thế là bà lão cho cậu vào, và họ bắt đầu trò chuyện.

“Why, bábushka,” the stranger asked, “is there such a throng in the city, why are rooms so dear, and why are the people all mourning and melancholy?”

"Bà ơi," người lạ hỏi, "sao trong thành phố lại đông đúc thế, sao phòng trọ lại đắt đỏ vậy, và sao mọi người đều than khóc và u sầu vậy?"

“Well, our king has just died, and the boyárs have sent the town-crier out to announce that old and young are to assemble, and each of them is to have a candle, and with the candles they are to go into the cathedral, and whosesoever’s candle lights of itself is to be king.”

"Chà, vua của chúng ta vừa mới mất, và các quan đại thần đã cho người rao tin khắp phố báo rằng già trẻ đều phải tụ họp lại, mỗi người phải mang theo một cây nến, và cầm nến đi vào nhà thờ lớn, ai có cây nến tự cháy sáng thì người đó sẽ làm vua."

So in the morning the boy got up, washed, prayed to God, said the grace for the bread and salt and the soft bed which his hostess had given him, and went into the cathedral. When he got there, if you had been there three years you could not have counted all those people. And he took a candle in his hand, and it lit up at once. So they all burst upon him and began to blow out his candle, to damp it, but the flame lit all the brighter. There was no help for it: they acknowledged him as their king, and dressed him in golden apparel and led him to the palace.

Sáng hôm sau, cậu bé thức dậy, rửa mặt, cầu nguyện với Chúa, tạ ơn vì bánh mì, muối và chiếc giường êm mà bà chủ nhà đã cho cậu, rồi đi vào nhà thờ lớn. Khi cậu đến đó, dù có ở đó ba năm cũng không thể đếm hết được số người ở đó. Cậu cầm một cây nến trong tay, và nó bùng cháy ngay lập tức. Thế là mọi người xô đến quanh cậu và bắt đầu thổi tắt nến của cậu, dập nó đi, nhưng ngọn lửa lại càng cháy sáng hơn. Chẳng còn cách nào khác: họ công nhận cậu là vua của họ, mặc cho cậu áo bào vàng và đưa cậu vào cung điện.

But the younger brother, who had turned to the left, heard that there was a fair princess in a certain kingdom who was indescribably lovely. But she was very grudging, and she announced in all countries that she would only marry the man who could feed her army for three whole years; yet every one had to try his luck. So the boy went there, and he went on his way, went on the broad road. And he spat into his little bag, and spat it full of pure gold.

Còn người em, người đã rẽ sang trái, nghe nói rằng có một nàng công chúa xinh đẹp ở một vương quốc nọ, đẹp đến mức không thể tả xiết. Nhưng nàng vô cùng keo kiệt, và nàng tuyên bố khắp các xứ rằng nàng chỉ kết hôn với người nào có thể nuôi quân đội của nàng trong suốt ba năm ròng; ai cũng phải thử vận may của mình. Thế là chàng trai lên đường, cậu đi trên con đường rộng. Và cậu nhổ nước bọt vào cái túi nhỏ của mình, và nó đầy ắp vàng ròng.

Well, it may be long, it may be short, it may be near, it may be far, but he at last reached the fair princess, and he said he would accomplish her task. He had no need to ask for gold, he simply had to spit and there it was. For three years he maintained the princess’s army, gave it food and drink and dress.

Chà, có thể lâu, có thể ngắn, có thể gần, có thể xa, nhưng cuối cùng cậu cũng đến được chỗ nàng công chúa xinh đẹp, và cậu nói cậu sẽ hoàn thành nhiệm vụ của nàng. Cậu chẳng cần phải xin vàng, chỉ cần nhổ nước bọt là có ngay. Trong suốt ba năm, cậu nuôi quân đội của công chúa, cho họ ăn, uống và mặc.

So the time came for a jolly feast and for the wedding. But the princess was still full of wiles. She asked herself and she sought to know whence God had sent him such enormous wealth. So she invited him to be her guest, received him, honoured him. And the doughty youth fell sick, and he vomited up the liver of the hen, and the Tsarévna swallowed it. From that day gold fell from her lips, and she would not have her bridegroom with her. “What shall I do with this ignoramus?” she asked her boyárs, and she asked her generals. “He has had the idiotic idea of wanting to marry me.”

Rồi đến lúc tổ chức lễ hội vui vẻ và đám cưới. Nhưng công chúa vẫn còn đầy mưu mẹo. Nàng tự hỏi và tìm cách biết xem Chúa đã ban cho cậu khối tài sản khổng lồ ấy từ đâu. Thế là nàng mời cậu làm khách của mình, tiếp đón cậu, tôn vinh cậu. Và chàng trai dũng cảm bị ốm, và cậu nôn ra gan con gà, và Công Chúa nuốt lấy nó. Từ ngày đó, vàng rơi ra từ môi nàng, và nàng không muốn giữ chú rể bên mình nữa. "Ta phải làm gì với kẻ ngu dốt này đây?" nàng hỏi các quan đại thần của mình, và nàng hỏi các tướng quân của mình. "Hắn đã có ý nghĩ ngu ngốc là muốn cưới ta."

So the boyárs said he must be hung, and the generals said he must be shot. But the Tsarévna had a better idea—that he ought to be sent to hell.

Thế là các quan đại thần nói phải treo cổ cậu, và các tướng quân nói phải bắn cậu. Nhưng Công Chúa có ý hay hơn—rằng cậu nên bị đày xuống địa ngục.

So the doughty youth escaped and once more set forth on his road. And he had only one thought in his mind, how he should make himself wise and revenge himself on the Tsarévna for her unkind jest. So he went on and went on, and he came into the dreamy wood, and he looked and he saw three men fighting with their fists.

Thế là chàng trai dũng cảm trốn thoát và lại lên đường một lần nữa. Trong đầu cậu chỉ có một suy nghĩ duy nhất, làm sao để trở nên khôn ngoan hơn và báo thù Công Chúa vì trò đùa tàn nhẫn của nàng. Cậu cứ đi mãi và đi mãi, và cậu đến một khu rừng mơ màng, và cậu nhìn thấy ba người đàn ông đang đánh nhau bằng nắm đấm.

“What are you fighting about?”

"Các anh đánh nhau vì chuyện gì vậy?"

“We have three finds in the road, and we cannot divide them; every one wants them for himself.”

"Chúng tôi có ba thứ nhặt được trên đường, và chúng tôi không thể chia được; ai cũng muốn giữ cho riêng mình."

“What are the finds? what are you contending for?”

"Những thứ nhặt được đó là gì? các anh đang tranh giành cái gì vậy?"

“Look, this is a barrel: you only have to knock it, and a soldier leaps out of its mouth. This is a flying carpet: wherever you think it will take you. And this is a whip: strike a maiden and say ‘You have been a maiden, now become a mare,’ and she will become a mare at once.”

"Nhìn này, đây là một cái thùng: anh chỉ cần gõ vào nó, một người lính sẽ nhảy ra từ miệng thùng. Đây là một tấm thảm bay: đi đến bất cứ nơi nào anh nghĩ tới. Và đây là một cây roi: đánh một cô gái và nói 'Ngươi từng là một cô gái, giờ hãy trở thành ngựa cái,' và nàng sẽ ngay lập tức trở thành ngựa cái."

“These are valuable gifts, and they are hard to divide. But this is the way out: I will send an arrow in this direction, and you all run after it; he who reaches it first shall have the barrel, and the second shall have the flying carpet, and the third shall have the whip.”

"Đây đều là những món quà quý giá, và khó mà chia được. Nhưng đây là cách giải quyết: tôi sẽ bắn một mũi tên về hướng này, và tất cả các anh chạy theo nó; ai đến nơi trước sẽ được cái thùng, người thứ hai sẽ được tấm thảm bay, và người thứ ba sẽ được cây roi."

“Very well; shoot the dart.”

"Được lắm; bắn mũi tên đi."

So the youth sent out the arrow very far. The three darted after it and ran, and they never looked up. But the doughty youth took the barrel and the whip, sat upon the flying carpet, waved it one end, and he rose higher than the forest that stood there, lower than the clouds above, and he flew whither he would.

Thế là chàng trai bắn mũi tên đi thật xa. Cả ba lao theo nó và chạy, họ chẳng bao giờ ngoảnh lại. Nhưng chàng trai dũng cảm lấy cái thùng và cây roi, ngồi lên tấm thảm bay, vẫy một góc thảm, và cậu bay lên cao hơn cả khu rừng đứng đó, thấp hơn những đám mây phía trên, và cậu bay đến nơi mình muốn.

So he went back to the forbidden lands of the fair princess, began beating the barrel, and an enormous army came out; infantry, cavalry and artillery, with cannon and with powder waggons. And the mighty host rolled on and rolled on. The doughty youth asked for a horse, mounted it, and went up to his army and commanded it. The drums beat out and the trumpets sounded, and the army went at a pace.

Thế là cậu quay trở lại vùng đất cấm của nàng công chúa xinh đẹp, bắt đầu gõ vào cái thùng, và một đội quân khổng lồ hiện ra; bộ binh, kỵ binh và pháo binh, với đại bác và xe chở thuốc súng. Đội quân hùng mạnh ấy tiến lên, tiến lên mãi. Chàng trai dũng cảm xin một con ngựa, cưỡi lên nó, tiến đến đội quân của mình và chỉ huy họ. Trống trận vang lên và kèn hiệu vang lên, và đội quân tiến bước theo nhịp.

Then the Tsarévna saw from her rooms and was very much frightened, and sent her boyárs and generals to ask for peace. The good youth bade these ambassadors be seized, had them cruelly and savagely punished and sent them back to the Tsarévna, who was to come herself and ask for a reconciliation.

Rồi Công Chúa nhìn thấy từ phòng mình và vô cùng hoảng sợ, cử các quan đại thần và tướng quân của mình đến cầu hòa. Chàng trai tốt bụng ra lệnh bắt giữ các sứ giả này, cho họ chịu hình phạt tàn khốc và dã man rồi gửi họ trở về Công Chúa, bảo nàng phải tự mình đến cầu xin hòa giải.

Well, there was no help for it: so the Tsarévna herself got out of her carriage, recognised him and swooned. But he took the whip, struck her on the back: “You are a maiden, now become a mare!” And the Tsarévna turned into a mare. He bridled and rode her, and went to the kingdom of his elder brother. He galloped at a full pace, put both spurs into her back and used a scourge of three iron rods, and the army followed him, an unbelievable host.

Chà, chẳng còn cách nào khác: nên Công Chúa tự mình bước ra khỏi xe ngựa, nhận ra cậu và ngất xỉu. Nhưng cậu cầm lấy cây roi, quất vào lưng nàng: "Ngươi là một cô gái, giờ hãy trở thành ngựa cái!" Và Công Chúa biến thành một con ngựa cái. Cậu tra dây cương và cưỡi nàng, đi đến vương quốc của người anh trai mình. Cậu phi nước đại hết tốc lực, thúc cả hai chân vào lưng nàng và dùng một cây roi ba thanh sắt, và đội quân theo sau cậu, một đội quân đông đảo không thể tin nổi.

It may be long, it may be short, at last they came to the boundary, and the doughty youth stopped, collected his army into the barrel, and went to the capital. He went straight to the royal palace, and the king himself saw him and looked at the mare and began to wonder: “What is this great hero approaching? I have never seen such a fine mare in all my life.” So he sent his generals to trade for that horse.

Có thể lâu, có thể ngắn, cuối cùng họ cũng đến biên giới, và chàng trai dũng cảm dừng lại, gom đội quân của mình vào cái thùng, rồi đến kinh đô. Cậu đi thẳng đến hoàng cung, và chính nhà vua nhìn thấy cậu và nhìn con ngựa cái, bắt đầu kinh ngạc: "Vị anh hùng vĩ đại này là ai đang đến vậy? Ta chưa bao giờ thấy một con ngựa cái đẹp đến vậy trong đời." Thế là ông cử các tướng quân đến thương lượng mua con ngựa đó.

“No, what an envious king you have!” said the youth. “It would evidently be out of the question in your city to come here with a young wife; if you are so greedy for a mare, you would certainly take away my wife.”

"Không, vua của các người thật tham lam quá!" chàng trai nói. "Rõ ràng là trong thành phố của các người sẽ chẳng được phép mang theo một người vợ trẻ đến đây; nếu các người tham lam một con ngựa cái đến vậy, chắc chắn các người sẽ cướp luôn vợ tôi mất."

Then he went to the palace and said, “Hail, brother!”

Rồi cậu đi vào cung điện và nói, "Chào anh trai!"

“Oh, I never knew you!”

"Ôi, ta chẳng nhận ra em đâu!"

So they set to kissing each other.

Thế là họ ôm hôn nhau.

“What sort of barrel have you?”

"Anh có cái thùng gì vậy?"

“That is for drinking. How should I journey forth on the road otherwise?”

"Đó là để uống rượu. Nếu không có nó thì làm sao anh đi đường được?"

“And the carpet?”

"Còn tấm thảm?"

“Sit down and you will find out.”

"Ngồi xuống đi rồi em sẽ biết."

So they sat on the flying carpet, and the younger brother shook it at the corner and they flew higher than the forest, lower than the wandering cloud, straight back to their own country. So they flew back, took a room with their father, and as to who they were they never told their father and mother. So they then thought they would give a feast to all the christened world. They assembled all the people in countless hosts, and for three whole days they gave food and drink to all without requital, without any charge.

Thế là họ ngồi lên tấm thảm bay, và người em vẫy góc thảm lên, họ bay cao hơn khu rừng, thấp hơn đám mây lang thang, thẳng về quê hương của họ. Họ bay về, thuê một căn phòng ở nhà cha mình, và về việc họ là ai thì họ chẳng bao giờ nói cho cha mẹ biết. Thế là họ nghĩ nên tổ chức một bữa tiệc cho tất cả những người theo đạo. Họ tập hợp tất cả mọi người lại thành những đám đông vô số kể, và trong suốt ba ngày ròng họ phát đồ ăn thức uống cho tất cả mọi người mà không đòi hỏi gì, không thu một xu nào.

And afterwards every one began saying had any one a tale of wonder to tell; let him start. But no one would say: “We, it is said, are strange folk, but——”

Sau đó mọi người bắt đầu hỏi xem có ai có câu chuyện kỳ diệu nào để kể không; hãy để người đó bắt đầu. Nhưng chẳng ai chịu nói: "Chúng tôi, người ta bảo, là những người kỳ lạ, nhưng——"

“Well, I will tell you a story,” said the younger brother; “only do not talk until the end. Whoever interrupts three times is to be ruthlessly punished.” So they all agreed.

"Được rồi, ta sẽ kể cho các người nghe một câu chuyện," người em nói; "chỉ có điều đừng nói gì cho đến khi kết thúc. Ai ngắt lời ba lần sẽ bị trừng phạt không nương tay." Thế là tất cả đều đồng ý.

And he began to tell how the two old folks had lived together, how they had had a hen which laid jewels, and how the mother had made friends with the apprentice. “What a lie!” interrupted the mistress. But the son went on with his tale. And he narrated how they had twisted the hen’s neck, and the mother again interrupted. At last the story went up to the point when the old woman wished to take away the children, and again she would not stand it: “It is untrue!” she said. “Could ever such a thing happen? Could ever a mother wish to be torn from her children?”

Và cậu bắt đầu kể về việc hai ông bà lão đã sống với nhau như thế nào, họ đã có một con gà đẻ ra đá quý như thế nào, và người mẹ đã kết thân với chàng học việc ra sao. "Toàn là nói dối!" người vợ ngắt lời. Nhưng người con vẫn tiếp tục câu chuyện của mình. Cậu kể lại việc họ đã vặn cổ con gà như thế nào, và người mẹ lại ngắt lời lần nữa. Cuối cùng câu chuyện đến đoạn bà lão muốn giết hại các con mình, và một lần nữa bà không chịu nổi: "Đó là chuyện không có thật!" bà nói. "Làm sao chuyện như thế có thể xảy ra được? Làm sao một người mẹ lại có thể muốn xa lìa con cái mình được?"

“Obviously, it is possible. Look at us, mother; we are your children.”

"Rõ ràng là có thể xảy ra chứ. Mẹ nhìn chúng con đây này, mẹ; chúng con chính là con của mẹ đấy."

Then the whole story came out, and the father bade his wife be chopped up into bits. He tied the apprentice to the tail of horses, and the horses broke in every direction and scattered his bones over the fields. “Let the dog die a dog’s death!” said the old man. And he gave all his property to the poor and went to live in his elder son’s kingdom.

Rồi toàn bộ câu chuyện được phơi bày, và người cha ra lệnh chặt vợ mình thành từng mảnh. Ông trói chàng học việc vào đuôi ngựa, và lũ ngựa chạy tán loạn khắp nơi, xương cốt anh ta vương vãi khắp cánh đồng. "Cứ để con chó chết theo kiểu của con chó!" ông lão nói. Rồi ông đem hết tài sản của mình cho người nghèo và đến sống ở vương quốc của người con trai cả.

But the younger son smote his mare with the back of his hand and said, “You are a mare; now become a maiden!” So the mare turned into the fair Tsarévna. They made peace, became friends and wedded. It was a magnificent wedding.

Nhưng người con trai út vỗ tay vào lưng con ngựa cái của mình và nói, "Ngươi là ngựa cái; giờ hãy trở thành thiếu nữ!" Thế là con ngựa cái biến thành nàng Công Chúa xinh đẹp. Họ làm hòa, trở thành bạn bè và kết hôn. Đó là một đám cưới huy hoàng.

I was there, I drank mead and it flowed up to my beard, but none came into my mouth.

Ta cũng có mặt ở đó, ta đã uống rượu mật ong và nó chảy tràn đến tận râu ta, nhưng chẳng có giọt nào vào miệng ta cả.

Open in the Storyteller app Get it on Google Play