The Winter Sea Swimmers
Một truyện tiếng Anh miễn phí trình độ C1 cho người học, đọc trực tuyến bằng 5 ngôn ngữ, có thể nghe qua ứng dụng Storyteller miễn phí.
A newcomer to a winter sea-swimming group slowly builds a wordless friendship with another swimmer.
Hết phần nghe thử! Nghe trọn truyện trong ứng dụng Storyteller miễn phí. Tải app
Hiện chưa thể phát audio.
The group meets at half past six at the foot of the concrete slipway. The sky is still the colour of wet slate, and the tide has left a rim of foam along the shingle. There are nine regulars, in woollen hats and rubber boots, and they have one rule that nobody has ever said aloud: no talking in the water. Olympia learns it on her first morning, by being looked at.
Cả nhóm gặp nhau lúc sáu giờ rưỡi dưới chân con dốc bê tông. Bầu trời vẫn mang màu đá phiến ướt, và thủy triều đã để lại một viền bọt dọc bãi sỏi. Có chín người thường xuyên, đội mũ len, đi ủng cao su, và họ có một quy tắc chưa ai từng nói thành lời: không nói chuyện dưới nước. Olympia học được điều đó vào buổi sáng đầu tiên, bằng cách bị nhìn.
She has come because of a winter that would not end, a flat that was too quiet in the evenings, and a colleague's offhand remark that the sea in January cures things. Nobody tells her the truth about the first ten seconds. Her skin shouts. Her breath comes out in broken pieces, and her whole body insists that every part of this is a mistake. Then something loosens, the water closes over her shoulders, and for a minute and a half she is nothing but sensation, hearing only her own pulse and the slap of small waves against the buoy.
Cô đến vì một mùa đông không chịu kết thúc, một căn hộ quá yên tĩnh vào các buổi tối, và lời nói bâng quơ của một đồng nghiệp rằng biển tháng Giêng chữa lành được mọi thứ. Không ai nói với cô sự thật về mười giây đầu tiên. Da cô la hét. Hơi thở bật ra thành từng mảnh vỡ, và cả cơ thể khăng khăng rằng mọi phần của chuyện này đều là một sai lầm. Rồi có điều gì đó nới lỏng, nước khép lại trên vai cô, và trong một phút rưỡi cô chỉ còn là cảm giác, chỉ nghe nhịp mạch của chính mình và tiếng sóng nhỏ vỗ vào chiếc phao.
The man in the green hat is always last in and last out. She notices him in the third week: a broad man who stands at the water's edge a long moment before he goes in, hands open at his sides, as if asking permission. He swims a slow breaststroke with his chin held high. Once, as they pass on the way back, he lifts two fingers from the surface. It is not quite a wave. It is a notice taken.
Người đàn ông đội mũ xanh luôn là người xuống nước sau cùng và lên khỏi nước sau cùng. Cô để ý đến ông vào tuần thứ ba: một người đàn ông vạm vỡ đứng ở mép nước một lúc lâu trước khi bước xuống, hai tay mở ra bên người, như thể xin phép. Ông bơi ếch chậm, cằm ngẩng cao. Có lần, khi hai người lướt qua nhau trên đường quay về, ông giơ hai ngón tay khỏi mặt nước. Không hẳn là một cái vẫy tay. Đó là một sự ghi nhận.
She wonders about him more than she expects to. What does he do the rest of the day? Where does he put the cold? But it is a group built on not asking, and she finds the not-asking restful in a way she cannot have explained to the colleague who suggested it.
Cô tò mò về ông nhiều hơn mình tưởng. Phần còn lại của ngày ông làm gì? Ông để cái lạnh ở đâu? Nhưng đây là một nhóm được xây trên việc không hỏi, và cô thấy việc không hỏi ấy nhẹ nhõm theo cách cô không thể giải thích cho người đồng nghiệp đã gợi ý.
In the fourth week she forgets her gloves on the wall. Had she not come back for them the next morning, she would never have found them lying on the stone above her towel, dry, with the thumbs folded neatly inside. No note. Nobody looks at her. It is the hands that give him away, blunt and red to the wrist, and careful even now, wrapping a flask in a scarf thirty feet along the beach.
Tuần thứ tư, cô quên đôi găng tay trên bức tường. Nếu sáng hôm sau cô không quay lại tìm, cô sẽ chẳng bao giờ thấy chúng nằm trên phiến đá phía trên chiếc khăn tắm, khô ráo, hai ngón cái được gấp gọn vào trong. Không có lời nhắn. Không ai nhìn cô. Chính đôi bàn tay đã tố cáo ông, to bản và đỏ đến cổ tay, và vẫn cẩn thận ngay cả lúc này, đang quấn một chiếc bình giữ nhiệt trong khăn len cách đó chín mét dọc bãi biển.
The next day she leaves a tangerine on his folded towel, peeled and put back together so that it looks whole. He says nothing. Nor does he refuse it. On the morning after, there is a square of dark chocolate, laid on the wall at precisely the height of her hand.
Hôm sau cô để một quả quýt trên chiếc khăn gấp của ông, bóc vỏ rồi ghép lại để trông như còn nguyên. Ông không nói gì. Cũng không từ chối. Sáng hôm sau nữa, có một viên sô-cô-la đen, đặt trên bức tường ở đúng độ cao bàn tay cô.
So it goes through January, and the cold, which she had thought was the enemy, turns into a kind of shared weather. After the swim her fingers stop working. She sits on the slipway, wrapped in a towel the size of a tent, and unscrews the cap of her flask only with an awkward grip of both palms. Never before has she looked forward to being cold. Had her colleague made that remark in July instead of January, she thinks, she would never have come at all.
Cứ thế suốt tháng Giêng, và cái lạnh, thứ cô từng nghĩ là kẻ thù, hóa thành một kiểu thời tiết chung. Sau buổi bơi, ngón tay cô thôi làm việc. Cô ngồi trên con dốc, quấn trong tấm khăn to cỡ cái lều, và chỉ vặn được nắp bình bằng cách kẹp vụng về giữa hai lòng bàn tay. Chưa bao giờ cô mong được lạnh đến thế. Nếu đồng nghiệp nói câu ấy vào tháng Bảy thay vì tháng Giêng, cô nghĩ, cô sẽ chẳng bao giờ đến.
Once, at the end of the month, she watches him fail to open his own flask, his fingers too numb to grip the cap. Without a word she reaches over and turns it for him. He nods, a single downward movement of the head, and the steam comes up between them.
Một lần, cuối tháng, cô nhìn ông không mở nổi chiếc bình của mình, ngón tay tê quá để nắm nắp. Không nói lời nào, cô với sang vặn giúp ông. Ông gật đầu, một cử động cúi xuống duy nhất, và hơi nước bốc lên giữa hai người.
On a morning in February he is not there. She stands at the edge longer than usual, then swims out to the buoy and back, slower than she needs to, her eyes on the water behind her. At the foot of the slipway a green hat appears between two swells and a broad pair of shoulders follows it.
Một buổi sáng tháng Hai ông không có mặt. Cô đứng ở mép nước lâu hơn thường lệ, rồi bơi ra phao và quay lại, chậm hơn mức cần thiết, mắt dõi theo mặt nước phía sau. Dưới chân con dốc, một chiếc mũ xanh xuất hiện giữa hai con sóng, và một đôi vai rộng theo sau nó.
She is waiting on the stones when he comes out. She unscrews the flask, pours, and for the first time pours two. He takes the cup in both hands. Neither of them says anything, and the steam rises between them and drifts off toward the headland.
Cô chờ trên bãi sỏi khi ông lên bờ. Cô vặn nắp bình, rót, và lần đầu tiên rót hai cốc. Ông nhận cốc bằng cả hai tay. Không ai nói gì, và hơi nước bốc lên giữa hai người rồi trôi về phía mũi đất.






