The Repair Café
Một truyện tiếng Anh miễn phí trình độ B2 cho người học, đọc trực tuyến bằng 5 ngôn ngữ, có thể nghe qua ứng dụng Storyteller miễn phí.
At a monthly repair café, two competitive volunteers must cooperate to bring an old woman's silent radio back to life.
Hết phần nghe thử! Nghe trọn truyện trong ứng dụng Storyteller miễn phí. Tải app
Hiện chưa thể phát audio.
On the first Saturday of every month, the church hall smells of solder, coffee and warm dust. This is the repair café. Anyone can bring a broken lamp, a stuck zipper or a toaster that has given up. One of a dozen volunteers will try to bring it back to life for free.
Vào thứ Bảy đầu tiên của mỗi tháng, hội trường nhà thờ sực mùi chì hàn, cà phê và bụi ấm. Đó là quán cà phê sửa chữa. Ai cũng có thể mang đến một chiếc đèn hỏng, một khóa kéo kẹt hay một cái máy nướng bánh đã bỏ cuộc. Một trong hàng chục tình nguyện viên sẽ thử làm nó sống lại, miễn phí.
Dominika, who coordinates the volunteers, has learned that the real work isn't fixing things. It is managing the two retired men at the corner table: a former electrician and a former watchmaker. Each is convinced that he is the fastest repairer in the building. A small chalkboard on the wall, which nobody admits to having started, keeps the score.
Dominika, người điều phối các tình nguyện viên, đã học được rằng công việc thật sự không phải là sửa đồ. Đó là xoay xở với hai ông lão về hưu ở chiếc bàn góc: một cựu thợ điện và một cựu thợ đồng hồ. Mỗi ông đều tin chắc mình là người sửa nhanh nhất trong tòa nhà. Một tấm bảng đen nhỏ trên tường, mà chẳng ai nhận là mình đã khởi xướng, ghi lại điểm số.
This morning the board reads: Toaster, 11 minutes (electrician). Wristwatch, 9 minutes (watchmaker). Both men glance at it whenever a new customer sits down, the way people glance at a mirror.
Sáng nay tấm bảng ghi: Máy nướng bánh, 11 phút (thợ điện). Đồng hồ đeo tay, 9 phút (thợ đồng hồ). Cả hai ông liếc nhìn nó mỗi khi có khách mới ngồi xuống, như người ta liếc vào gương.
At ten o'clock, an old woman called Johanna comes in, holding a wooden radio against her chest as if it were a cat. It is the size of a bread box, with a cloth front and a dial that was once lit from behind. "It was my husband's," she says. "He listened to the evening concert on it for forty years. It has been silent since he died."
Lúc mười giờ, một bà cụ tên Johanna bước vào, ôm chiếc radio gỗ trước ngực như ôm một con mèo. Nó to cỡ một cái hộp đựng bánh mì, mặt trước bọc vải và một chiếc mặt số từng sáng đèn từ phía sau. "Của chồng tôi đấy," bà nói. "Ông ấy nghe buổi hòa nhạc buổi tối trên nó suốt bốn mươi năm. Nó im bặt từ khi ông ấy mất."
The electrician reaches for it first. "Dead capacitor," he announces after thirty seconds, with the confidence of a man who has already pressed his stopwatch. "Twenty minutes, maximum."
Ông thợ điện với tay lấy nó trước. "Tụ điện chết," ông tuyên bố sau ba mươi giây, với sự tự tin của người đã bấm đồng hồ bấm giờ. "Tối đa hai mươi phút."
"The dial cord has snapped," the watchmaker says at the same moment, leaning over. "It wouldn't turn even if the power were on."
"Dây núm chỉnh đứt rồi," ông thợ đồng hồ nói cùng lúc, cúi người xuống. "Có cấp điện cũng không xoay được."
They look at each other. Johanna looks from one to the other, as though she has wandered into a sport she doesn't know.
Họ nhìn nhau. Johanna nhìn từ ông này sang ông kia, như thể bà vừa lạc vào một môn thể thao mà mình không biết.
Dominika has been watching from behind the tea urn. She knows exactly what will happen. The electrician will fix the sound, the watchmaker will fix the dial, and each will claim the radio as his own victory. Worse, it would be returned to its owner only half repaired.
Dominika đã quan sát từ sau chiếc bình trà lớn. Cô biết chính xác điều gì sẽ xảy ra. Ông thợ điện sẽ sửa tiếng, ông thợ đồng hồ sẽ sửa mặt số, và mỗi người sẽ nhận chiếc radio là chiến thắng của riêng mình. Tệ hơn, nó sẽ được trả về cho chủ mới chỉ sửa được một nửa.
"Gentlemen," she says, and sets a third chair at their table. "I am changing the rules. This repair gets one score on the board, and it is shared."
"Thưa hai quý ông," cô nói, và đặt thêm một chiếc ghế thứ ba vào bàn của họ. "Tôi đổi luật. Ca sửa này chỉ có một điểm trên bảng, và điểm đó là chung."
They grumble. Neither refuses.
Họ càu nhàu. Không ai từ chối.
For an hour, the corner table is almost silent. The electrician replaces a small capacitor, tests the wiring with a probe and mutters about the quality of old solder. The watchmaker threads a new cord around the pulley with tweezers, his tongue between his teeth, and loops it three times before it holds. Occasionally one of them says "Hold this," and the other holds it.
Trong một tiếng đồng hồ, chiếc bàn góc gần như im lặng. Ông thợ điện thay một chiếc tụ điện nhỏ, kiểm tra dây dẫn bằng que đo và lầm bầm về chất lượng của mối hàn cũ. Ông thợ đồng hồ luồn sợi dây mới quanh ròng rọc bằng nhíp, đầu lưỡi cắn giữa hai hàm răng, và vòng ba lần mới giữ được. Thỉnh thoảng một người nói "Giữ giùm cái này," và người kia giữ.
Johanna drinks her tea and says nothing. Once she reaches out and touches the wood of the radio, then takes her hand back.
Johanna uống trà và không nói gì. Có lần bà đưa tay chạm vào thân gỗ của chiếc radio, rồi rụt tay lại.
At twenty to twelve, the electrician switches it on. A hum, then a crackle, then a thin strip of light behind the dial. The watchmaker turns the knob slowly, and the needle slides across the numbers like a swimmer. A voice appears, murmuring through the static, and then a few bars of piano, faint but clear.
Mười hai giờ kém hai mươi, ông thợ điện bật nó lên. Một tiếng vo vo, rồi tiếng lách tách, rồi một dải sáng mỏng sau mặt số. Ông thợ đồng hồ xoay núm thật chậm, và kim chỉ trượt qua các con số như một người bơi. Một giọng nói hiện ra, thì thầm qua tiếng nhiễu, rồi vài nhịp piano, yếu ớt nhưng rõ ràng.
The two men sit back at exactly the same moment. Neither says a word.
Hai ông lão ngả người ra sau đúng cùng một lúc. Không ai nói một lời.
Johanna presses a hand to her mouth. "That's the one," she says. "That's his concert." She thanks them both and, after some thought, shakes hands with each of them in turn.
Johanna áp bàn tay lên miệng. "Đúng nó rồi," bà nói. "Đó là buổi hòa nhạc của ông ấy." Bà cảm ơn cả hai ông và, sau một lúc suy nghĩ, bắt tay từng người một.
When she has gone, Dominika walks to the chalkboard, picks up the chalk and writes: Radio, 1 hour 40 minutes (both). Behind her, the electrician and the watchmaker pretend not to read it.
Khi bà đã đi, Dominika bước đến tấm bảng đen, cầm viên phấn lên và viết: Radio, 1 giờ 40 phút (cả hai). Sau lưng cô, ông thợ điện và ông thợ đồng hồ giả vờ không đọc.






