The Photograph in the Donation Box
Một truyện tiếng Anh miễn phí trình độ B2 cho người học, đọc trực tuyến bằng 2 ngôn ngữ, có thể nghe qua ứng dụng Storyteller miễn phí.
Widower Graham finds an old photograph while donating his late wife's belongings and meets a volunteer who understands his grief.
Hết phần nghe thử! Nghe trọn truyện trong ứng dụng Storyteller miễn phí. Tải app
Hiện chưa thể phát audio.
Graham had been sorting his late wife's belongings into boxes for months, one shelf at a time, whenever he could manage it. The donation box for the community center was nearly full when he found the photograph tucked inside an old cookbook. It showed himself and Eleanor, decades younger, laughing at something outside the frame.
Suốt nhiều tháng, Graham đã sắp xếp đồ đạc của người vợ quá cố vào các thùng carton, mỗi lần một ngăn, bất cứ khi nào ông có thể xoay được thời gian. Thùng đồ quyên góp cho trung tâm cộng đồng đã gần đầy khi ông tìm thấy tấm ảnh giấu trong một cuốn sách nấu ăn cũ. Bức ảnh chụp ông và Eleanor, khi cả hai còn trẻ hơn nhiều, đang cười vì điều gì đó ngoài khung hình.
He almost kept it back. Instead, feeling that Eleanor herself would have found the gesture a little dramatic, he let it stay. He carried the whole box to the center that Saturday.
Ông suýt giữ lại tấm ảnh. Nhưng rồi, cảm thấy rằng chính Eleanor cũng sẽ thấy hành động đó có phần cường điệu, ông để nó ở lại trong thùng. Ông mang cả thùng đồ đến trung tâm vào thứ Bảy đó.
The volunteer behind the counter turned out to be a woman named Solveig, who ran the donation intake most weekends. She lifted the cookbook out first, and the photograph slipped free onto the table between them.
Người tình nguyện viên đứng sau quầy hóa ra là một phụ nữ tên Solveig, người phụ trách việc nhận đồ quyên góp vào hầu hết các cuối tuần. Bà lấy cuốn sách nấu ăn ra trước, và tấm ảnh trượt rơi xuống bàn giữa hai người.
"Oh," she said, picking it up carefully. "You two look happy."
"Ồ," bà nói, nhẹ nhàng nhặt nó lên. "Hai người trông hạnh phúc quá."
"We were," Graham said, and found, to his own surprise, that he could say it without his voice catching. "She passed away last spring. I'm still learning what to do with everything she left behind."
"Chúng tôi đã từng như vậy," Graham nói, và ông ngạc nhiên nhận ra mình có thể nói điều đó mà không nghẹn giọng. "Cô ấy qua đời vào mùa xuân năm ngoái. Tôi vẫn đang học cách xử lý mọi thứ cô ấy để lại."
Solveig didn't offer the usual careful sympathy people had been giving him for months. She simply nodded and said that sorting through someone's things was its own kind of grief, slower than the funeral but just as real.
Solveig không tỏ ra thương cảm cẩn trọng như những gì người khác đã dành cho ông suốt nhiều tháng qua. Bà chỉ gật đầu và nói rằng việc sắp xếp lại đồ đạc của một người đã khuất cũng là một dạng đau buồn riêng, chậm hơn so với lễ tang nhưng không kém phần chân thật.
They talked for twenty minutes longer than the donation should have taken. Graham left with the photograph after all, having decided at the last moment that he wanted to keep it. Solveig suggested he come back the following Saturday to help sort the shelves.
Họ nói chuyện lâu hơn hai mươi phút so với thời gian một lần quyên góp thường mất. Cuối cùng Graham vẫn mang tấm ảnh về, vì vào giây phút cuối ông quyết định muốn giữ lại nó. Solveig gợi ý ông quay lại vào thứ Bảy tuần sau để giúp sắp xếp các kệ đồ.
He almost didn't go. Eleanor had been gone less than a year, and some part of him worried that wanting company again meant he hadn't loved her enough. But he must have known that grief and loneliness were not the same thing. By Friday evening, he had already decided what he would wear.
Ông suýt không đi. Eleanor mới mất chưa đầy một năm, và một phần trong ông lo sợ rằng việc muốn có ai đó bên cạnh lần nữa nghĩa là ông đã không yêu cô ấy đủ nhiều. Nhưng chắc hẳn ông cũng biết rằng đau buồn và cô đơn không phải là một. Đến tối thứ Sáu, ông đã quyết định xong mình sẽ mặc gì.
Solveig was there when he arrived, sorting old records into crates. She looked up and smiled, as if she, too, had wondered whether he would come.
Solveig đã ở đó khi ông đến, đang sắp xếp những chiếc đĩa nhạc cũ vào các thùng. Bà ngước lên và mỉm cười, như thể bà cũng đã tự hỏi liệu ông có đến không.
Neither of them called it anything yet. But Graham found, folding cardboard boxes beside her, that he was glad to have somewhere to be on a Saturday again.
Cả hai chưa gọi tên điều này là gì. Nhưng Graham nhận ra, khi đang gấp những chiếc thùng carton bên cạnh bà, rằng ông vui vì lại có một nơi để đến vào mỗi thứ Bảy.






