The Lottery Syndicate
Một truyện tiếng Anh miễn phí trình độ C1 cho người học, đọc trực tuyến bằng 5 ngôn ngữ, có thể nghe qua ứng dụng Storyteller miễn phí.
An office lottery syndicate wins a modest prize in the one week a faithful member forgot to pay in, and the record-keeper must decide what the rules really mean.
Hết phần nghe thử! Nghe trọn truyện trong ứng dụng Storyteller miễn phí. Tải app
Hiện chưa thể phát audio.
The office syndicate had existed for nine years, and its record was four small wins, two refunds and a voucher for a restaurant that closed before anyone used it. So when the numbers matched on a Wednesday in March, and the website produced a figure with a comma in it, Tilde, who kept the records, assumed she had misread the page. She read it again, slowly, with her finger on the screen. It was not a fortune: divided twelve ways, it came to just under two hundred each. But it was the most the syndicate had ever won, and she had, to her private horror, only eleven payments on the sheet.
Nhóm góp vé số của văn phòng đã tồn tại chín năm, và thành tích của nó là bốn lần trúng nhỏ, hai lần hoàn tiền và một phiếu ăn ở một nhà hàng đã đóng cửa trước khi ai kịp dùng. Vì thế khi các con số khớp vào một chiều thứ Tư tháng Ba, và trang web hiện ra một số có dấu phẩy, Tilde, người giữ sổ sách, tưởng mình đọc nhầm. Cô đọc lại, chậm rãi, ngón tay đặt trên màn hình. Đó không phải một gia tài: chia mười hai phần, mỗi người chưa tới hai trăm. Nhưng đó là khoản lớn nhất nhóm từng trúng, và cô, trong nỗi kinh hãi âm thầm, chỉ có mười một khoản đóng trong bảng.
The missing one belonged to the man from logistics who sat beside the printer. Never once in nine years had he been late with his stake, an envelope of exact change handed over by noon on Friday with a small bow that nobody had ever mentioned. It was precisely that reliability that had kept Tilde from noticing until she ran the totals. In the column for the week of the draw, next to his name, the cell was empty. She stared at it the way one stares at a smudge on a clean window.
Khoản thiếu thuộc về người đàn ông ở bộ phận hậu cần ngồi cạnh máy in. Chín năm chưa một lần anh trễ phần góp, một phong bì tiền lẻ đúng số được trao trước trưa thứ Sáu kèm một cái cúi đầu nhỏ mà chưa ai từng nhắc tới. Chính sự đáng tin ấy đã khiến Tilde không để ý cho đến khi cô cộng tổng. Ở cột tuần quay thưởng, cạnh tên anh, ô để trống. Cô nhìn nó như người ta nhìn một vết bẩn trên tấm kính sạch.
The rules, which predated her by a decade and were pinned above the kettle, were unambiguous. Article Four: no payment, no share. It had been drafted by an accountant who had since retired to the coast, and it was the only article anybody had ever bothered to memorise. By Thursday morning the news had crossed the office faster than a fire drill. Opinion divided in the usual way, along the line between those who had always paid on time and those who might one day forget. "Rules are rules," said the woman from procurement, who had not forgotten anything since the previous decade. A man in the next row wondered aloud whether a half share would be "a reasonable compromise," and was told that there was no such thing as a reasonable half in a syndicate.
Các quy tắc, có trước cô cả thập kỷ và được ghim phía trên ấm đun nước, rất rõ ràng. Điều Bốn: không góp tiền, không chia phần. Nó do một kế toán viên đã về hưu ở ven biển soạn ra, và là điều duy nhất ai cũng từng bận tâm học thuộc. Đến sáng thứ Năm, tin tức đã băng qua văn phòng nhanh hơn một buổi diễn tập cứu hỏa. Ý kiến chia đôi theo kiểu quen thuộc, theo ranh giới giữa những người luôn đóng đúng hạn và những người một ngày nào đó có thể quên. "Quy tắc là quy tắc," người phụ nữ ở bộ phận mua sắm, người chưa quên gì kể từ thập kỷ trước, nói. Một người đàn ông ở dãy bàn bên tự hỏi to rằng nửa phần có phải "một thỏa hiệp hợp lý" không, và được bảo rằng trong một nhóm góp vé số không có chuyện nửa phần hợp lý.
Tilde, who had wanted to be neither judge nor jury, found herself both. She went back to the ledger and, for want of anything better, began to count. Nine years, four hundred and sixty-eight weeks, and in four hundred and sixty-seven of them his envelope had been on her desk before lunch. Had he skipped any other Friday, the syndicate would have won nothing and nobody would ever have known. It struck her as an extraordinary piece of timing, and also as the kind of thing that should not, in a fair world, be allowed to decide anything.
Tilde, người đã muốn không làm thẩm phán cũng không làm bồi thẩm, thấy mình là cả hai. Cô quay lại quyển sổ và, vì không có gì tốt hơn, bắt đầu đếm. Chín năm, bốn trăm sáu mươi tám tuần, và trong bốn trăm sáu mươi bảy tuần trong số đó, phong bì của anh đã nằm trên bàn cô trước bữa trưa. Nếu anh bỏ lỡ bất kỳ thứ Sáu nào khác, nhóm đã chẳng trúng gì và sẽ không ai biết. Cô thấy đó là một sự trùng hợp thời điểm phi thường, và cũng là thứ, trong một thế giới công bằng, không nên được phép quyết định bất cứ điều gì.
She found him on Friday, standing by the printer and pretending to clear a paper jam that did not exist. "I should tell you," she said, "that we won last Wednesday."
Cô tìm thấy anh vào thứ Sáu, đứng cạnh máy in giả vờ gỡ một mẩu giấy kẹt không hề có. "Tôi nên nói với anh," cô nói, "rằng chúng ta đã trúng hôm thứ Tư tuần trước."
"I heard." He did not look up. "I also heard about Article Four."
"Tôi nghe rồi." Anh không ngẩng lên. "Tôi cũng nghe về Điều Bốn."
"Article Four says no payment, no share," Tilde said. "It says nothing about someone who has paid four hundred and sixty-seven weeks out of four hundred and sixty-eight."
"Điều Bốn nói không góp tiền, không chia phần," Tilde nói. "Nó chẳng nói gì về người đã góp bốn trăm sáu mươi bảy tuần trong bốn trăm sáu mươi tám."
He straightened at last. "I did forget," he said. "I've spent the week being reasonable about it."
Cuối cùng anh đứng thẳng lên. "Tôi đã quên," anh nói. "Cả tuần nay tôi cố tỏ ra biết điều về chuyện đó."
"How is that going?"
"Thế nào rồi?"
"Badly."
"Tệ."
Tilde put an envelope on top of the printer. "The committee met at lunch," she said, which was not strictly true, since the committee was herself and a vending machine. "Article Four has been amended. No payment, no share, except for members with nine unbroken years. It's a very narrow exception."
Tilde đặt một phong bì lên đầu máy in. "Ủy ban đã họp vào bữa trưa," cô nói, điều không hẳn đúng, vì ủy ban là cô và một cái máy bán hàng tự động. "Điều Bốn đã được sửa. Không góp tiền, không chia phần, trừ các thành viên có chín năm liên tục. Đó là một ngoại lệ rất hẹp."
"How many members does it apply to?"
"Nó áp dụng cho bao nhiêu thành viên?"
"One."
"Một."
He counted the notes with a grave attention that suggested he had been doing the arithmetic all week. Then he asked whether the revised rules allowed a person to buy the first round.
Anh đếm những tờ tiền với sự chú ý nghiêm trang gợi ý rằng anh đã làm phép tính này cả tuần. Rồi anh hỏi liệu quy tắc sửa đổi có cho phép một người mời lượt đồ uống đầu tiên không.
"Article Five covers that," Tilde said. There was no Article Five. She wrote it that afternoon.
"Điều Năm quy định việc đó," Tilde nói. Chẳng có Điều Năm nào cả. Chiều hôm ấy cô viết nó.






