Ảnh bìa The Hedge Maze

At ten to five, when the last coach had gone and the café was stacking its chairs, the woman at the ticket desk came out to the potting shed. A visitor, she said, had not come back from the maze. Severin put down his shears. In nineteen years as a gardener on the estate he had retrieved eleven lost visitors, two lost shoes and, one memorable August, an entire lost wedding party. He knew the routine as well as he knew the pruning calendar.

Mười phút trước năm giờ, khi chuyến xe khách cuối cùng đã đi và quán cà phê đang xếp ghế, người phụ nữ ở quầy bán vé chạy ra nhà kho chứa dụng cụ. Bà bảo có một vị khách chưa ra khỏi mê cung. Severin đặt kéo xuống. Mười chín năm làm vườn ở điền trang, ông đã đưa về mười một vị khách lạc, hai chiếc giày lạc và, vào một tháng Tám khó quên, cả một đoàn đám cưới lạc. Ông thuộc quy trình ấy như thuộc lịch tỉa cành.

The visitor's daughter was waiting at the entrance with her husband, already pale. "She went in at three," the daughter said. "She told us twenty minutes. She's seventy-nine, and her name is Rosalie." Severin lit the lantern, though it was not yet dark, because the hedges stood three metres high and the paths between them went dim an hour before the sky did.

Con gái của vị khách đang đợi ở lối vào cùng chồng, mặt đã tái. "Mẹ tôi vào lúc ba giờ," bà con gái nói. "Mẹ bảo hai mươi phút. Bà bảy mươi chín tuổi, tên là Rosalie." Severin thắp đèn lồng, dù trời chưa tối, vì hàng rào cao ba mét và những lối đi giữa chúng đã sẫm đi một giờ trước bầu trời.

The maze covered most of an acre, and had been planted, according to the guidebook, by an owner who disliked guests who left too soon. Severin knew every turn of it. He searched the way he had been taught, working outward in a spiral from the entrance, calling her name at each junction and then standing still to listen. Nothing answered except pigeons. By half past five he had covered every dead end, and the thought of an old woman, a stone step and a cold evening had begun to settle in his stomach.

Mê cung phủ gần trọn một mẫu đất, và theo sách hướng dẫn, nó được trồng bởi một ông chủ ghét những vị khách ra về quá sớm. Severin thuộc từng ngã rẽ. Ông tìm theo cách ông được dạy, đi vòng xoắn từ lối vào ra ngoài, gọi tên bà ở mỗi ngã ba rồi đứng im lắng nghe. Không gì đáp lại ngoài lũ bồ câu. Đến năm giờ rưỡi, ông đã đi hết mọi ngõ cụt, và ý nghĩ về một bà cụ, một bậc đá và một buổi chiều lạnh bắt đầu đóng cục trong bụng ông.

It was the sound of a page turning that gave her away. He was in the last passage before the centre, a place he rarely bothered with, since nobody had ever been lost there. Through the leaves came a small, dry, unhurried sound, entirely out of place. Not once in nineteen years had anything so ordinary come from the middle of the maze.

Chính tiếng lật trang sách đã làm bà lộ diện. Ông đang ở lối đi cuối cùng trước tâm mê cung, nơi ông hiếm khi bận tâm, vì chưa ai từng lạc ở đó. Xuyên qua tán lá vọng ra một âm thanh nhỏ, khô, thong thả, hoàn toàn lạc chỗ. Mười chín năm, chưa một lần có thứ gì bình thường đến vậy phát ra từ giữa mê cung.

She was sitting on the stone bench beside the sundial with a paperback open on her knee, a flask at her elbow and a cardigan folded under her against the cold of the seat. She looked up at the lantern with mild interest, the way one regards a waiter who has taken a little longer than expected.

Bà đang ngồi trên chiếc ghế đá cạnh đồng hồ mặt trời, cuốn sách bìa mềm mở trên đầu gối, bình giữ nhiệt đặt cạnh khuỷu tay, và một chiếc áo len gấp lại lót dưới người chống cái lạnh của mặt ghế. Bà ngước nhìn ngọn đèn lồng với vẻ quan tâm dịu dàng, như nhìn một cậu bồi bàn đến chậm hơn dự kiến chút ít.

"Oh, hello," she said. "Is it closing time?"

"Ồ, chào anh," bà nói. "Đóng cửa rồi à?"

"It's well past it," Severin said. "Your family have been looking for you for two hours. We thought you were lost."

"Quá giờ lâu rồi ạ," Severin nói. "Gia đình bà đã đi tìm bà hai tiếng. Chúng tôi tưởng bà bị lạc."

"Lost?" Rosalie considered the word honestly. "I don't think so. I knew exactly where I was the whole time. I was in the middle of a maze, which is where one is supposed to end up." She marked her page with a bus ticket. "Getting out seemed a separate problem, and I thought it could wait for somebody with a lantern."

"Lạc ư?" Rosalie cân nhắc từ ấy một cách nghiêm túc. "Tôi không nghĩ vậy. Suốt thời gian đó tôi biết chính xác mình đang ở đâu. Tôi ở giữa một mê cung, là nơi người ta vốn được cho là sẽ đến." Bà đánh dấu trang bằng một tấm vé xe buýt. "Việc đi ra thì có vẻ là một vấn đề khác, và tôi nghĩ nó có thể chờ ai đó mang đèn lồng đến."

Severin opened his mouth to deliver the speech about signs and closing times, and found that he had no use for it. Had she called out, he would have found her an hour sooner; but she had not called out, because it had never occurred to her that she needed finding. It might well be, he thought, that she was the only visitor who had ever reached the centre in peace.

Severin há miệng định đọc bài về biển báo và giờ đóng cửa, rồi nhận ra mình chẳng dùng đến nó. Nếu bà gọi, ông đã tìm thấy bà sớm hơn một tiếng; nhưng bà không gọi, vì chưa bao giờ nghĩ rằng mình cần được tìm. Có khi, ông nghĩ, bà là vị khách duy nhất từng đến được tâm mê cung trong yên bình.

She poured tea into the cup of the flask and held it out. He hesitated, a man on duty, and then sat down at the far end of the bench with the lantern between his boots. In nineteen years he had only ever passed through the middle, never stopped in it. From here the hedges closed overhead in a dark green ring, and the evening sky showed in the opening as a single pale coin.

Bà rót trà vào nắp bình rồi đưa ra. Ông ngập ngừng, một người đang làm nhiệm vụ, rồi ngồi xuống đầu kia của chiếc ghế, đèn lồng đặt giữa hai bàn chân đi ủng. Mười chín năm ông chỉ từng đi ngang qua trung tâm, chưa bao giờ dừng lại trong nó. Từ đây, hàng rào khép lại trên đầu thành một vòng xanh thẫm, và bầu trời chiều hiện qua khoảng hở như một đồng xu nhạt.

They stayed for the length of the cup. Then he led her out by the shortest route, left, left, right. At the gate the daughter ran forward, half scolding and half in tears, while Rosalie said again and again that she had not been lost.

Họ ngồi lại trong thời gian của một chén trà. Rồi ông dẫn bà ra bằng đường ngắn nhất, trái, trái, phải. Ở cổng, bà con gái chạy tới, vừa mắng vừa rơi nước mắt, trong khi Rosalie cứ lặp đi lặp lại rằng mình đâu có lạc.

"She wasn't," Severin said, and put out the lantern.

"Bà ấy đâu có lạc," Severin nói, rồi tắt đèn lồng.

🧠 Kiểm tra hiểu bài

  1. How does Severin finally find Rosalie?

    Xem đáp án

    Đáp án: He hears a page turning in the middle of the maze

    A small, dry sound of a page turning gives her away.

  2. What is Rosalie doing when he finds her?

    Xem đáp án

    Đáp án: Reading a book on a stone bench in the centre

    She sits on the bench by the sundial with a paperback, a flask and a folded cardigan.

  3. Why does Rosalie say she was not lost?

    Xem đáp án

    Đáp án: She knew where she was, and getting out was a separate problem that could wait

    She says she was in the middle of the maze, where one is supposed to end up, and getting out could wait for somebody with a lantern.

Thích truyện này? Nghe trọn bộ và tra từ bất kỳ trong app

  • Chạm vào từ bất kỳ để xem nghĩa
  • Nghe trọn bộ mọi truyện và đọc offline
  • Ôn từ vựng, luyện phát âm và làm quiz
Tải trên Google Play