An Unfinished Story
A free C1-level English story for language learners, readable online in 7 languages, with an option to listen via the free Storyteller app.
A shop-girl surviving New York on six dollars a week accepts a dinner invitation from a wealthy 'swell' with a dangerous reputation — until something on her dresser makes her change her mind.
We no longer groan and heap ashes upon our heads when the flames of Tophet are mentioned. For, even the preachers have begun to tell us that God is radium, or ether or some scientific compound, and that the worst we wicked ones may expect is a chemical reaction. This is a pleasing hypothesis; but there lingers yet some of the old, goodly terror of orthodoxy.
Chúng ta không còn rên rỉ và rắc tro lên đầu mỗi khi nhắc đến ngọn lửa Tophet nữa. Vì, ngay cả các nhà thuyết giáo cũng bắt đầu nói với chúng ta rằng Chúa là radium, hay ê-te, hay một hợp chất khoa học nào đó, và rằng điều tồi tệ nhất mà những kẻ tội lỗi chúng ta có thể chờ đợi chỉ là một phản ứng hóa học. Đây là một giả thuyết dễ chịu; nhưng vẫn còn vương lại chút nỗi sợ hãi tốt đẹp xưa cũ của chính thống giáo.
There are but two subjects upon which one may discourse with a free imagination, and without the possibility of being controverted. You may talk of your dreams; and you may tell what you heard a parrot say. Both Morpheus and the bird are incompetent witnesses; and your listener dare not attack your recital. The baseless fabric of a vision, then, shall furnish my theme—chosen with apologies and regrets instead of the more limited field of pretty Polly’s small talk.
Chỉ có hai đề tài mà người ta có thể bàn luận với trí tưởng tượng tự do, mà không sợ bị phản bác. Bạn có thể kể về giấc mơ của mình; và bạn có thể kể lại điều bạn nghe một con vẹt nói. Cả thần Morpheus lẫn con chim đều là những nhân chứng không đáng tin cậy; và người nghe bạn không dám công kích câu chuyện bạn kể. Vậy thì, tấm vải vô căn cứ của một ảo mộng sẽ làm đề tài của tôi — được chọn với lời xin lỗi và tiếc nuối thay vì đề tài hạn hẹp hơn là những câu chuyện phiếm nhỏ nhặt của nàng vẹt xinh đẹp Polly.
I had a dream that was so far removed from the higher criticism that it had to do with the ancient, respectable, and lamented bar-of-judgment theory.
Tôi từng có một giấc mơ xa rời hẳn khoa phê bình cao cấp đến nỗi nó liên quan đến thuyết tòa phán xét cổ xưa, đáng kính và đã bị lãng quên.
Gabriel had played his trump; and those of us who could not follow suit were arraigned for examination. I noticed at one side a gathering of professional bondsmen in solemn black and collars that buttoned behind; but it seemed there was some trouble about their real estate titles; and they did not appear to be getting any of us out.
Gabriel đã thổi kèn báo hiệu; và những ai trong chúng ta không theo kịp đã bị đưa ra thẩm vấn. Tôi để ý ở một bên có một nhóm những người bảo lãnh chuyên nghiệp trong bộ đồ đen trang trọng với cổ áo cài phía sau; nhưng dường như có chút rắc rối về quyền sở hữu bất động sản của họ; và họ có vẻ như không giúp được ai trong chúng ta thoát ra cả.
A fly cop—an angel policeman—flew over to me and took me by the left wing. Near at hand was a group of very prosperous-looking spirits arraigned for judgment.
Một viên cảnh sát bay — một thiên thần cảnh sát — bay đến chỗ tôi và nắm lấy cánh trái của tôi. Gần đó có một nhóm những linh hồn trông rất sung túc đang bị đưa ra phán xét.
“Do you belong with that bunch?” the policeman asked.
"Anh có thuộc nhóm đó không?" viên cảnh sát hỏi.
“Who are they?” was my answer.
"Họ là ai vậy?" tôi đáp lại.
“Why,” said he, “they are—”
"À," anh ta nói, "họ là—"
But this irrelevant stuff is taking up space that the story should occupy.
Nhưng những chuyện lạc đề này đang chiếm mất chỗ mà câu chuyện lẽ ra nên chiếm.
Dulcie worked in a department store. She sold Hamburg edging, or stuffed peppers, or automobiles, or other little trinkets such as they keep in department stores. Of what she earned, Dulcie received six dollars per week. The remainder was credited to her and debited to somebody else’s account in the ledger kept by G–––– Oh, primal energy, you say, Reverend Doctor—Well then, in the Ledger of Primal Energy.
Dulcie làm việc trong một cửa hàng bách hóa. Cô bán viền ren Hamburg, hay ớt nhồi, hay ô tô, hay những món đồ nhỏ nhặt khác mà người ta bày bán trong các cửa hàng bách hóa. Trong số tiền kiếm được, Dulcie nhận sáu đô la mỗi tuần. Phần còn lại được ghi có cho cô và ghi nợ cho tài khoản của ai đó khác trong cuốn sổ cái do G—— giữ. Ồ, ngài Mục sư đáng kính nói năng lượng nguyên thủy à — Vậy thì, trong Sổ Cái của Năng Lượng Nguyên Thủy vậy.
During her first year in the store, Dulcie was paid five dollars per week. It would be instructive to know how she lived on that amount. Don’t care? Very well; probably you are interested in larger amounts. Six dollars is a larger amount. I will tell you how she lived on six dollars per week.
Trong năm đầu tiên làm việc ở cửa hàng, Dulcie được trả năm đô la mỗi tuần. Sẽ thật bổ ích nếu biết cô sống ra sao với số tiền đó. Không quan tâm à? Được thôi; có lẽ bạn quan tâm đến số tiền lớn hơn. Sáu đô la là một số tiền lớn hơn. Tôi sẽ kể cho bạn nghe cô sống ra sao với sáu đô la mỗi tuần.
One afternoon at six, when Dulcie was sticking her hat-pin within an eighth of an inch of her medulla oblongata, she said to her chum, Sadie—the girl that waits on you with her left side:
Một buổi chiều lúc sáu giờ, khi Dulcie đang cài cây kim mũ cách tủy sống của mình chưa đến một phần tám inch, cô nói với bạn thân, Sadie — cô gái phục vụ khách bằng nửa người bên trái của mình:
“Say, Sade, I made a date for dinner this evening with Piggy.”
"Này, Sade, tớ hẹn đi ăn tối nay với Piggy."
“You never did!” exclaimed Sadie admiringly. “Well, ain’t you the lucky one? Piggy’s an awful swell; and he always takes a girl to swell places. He took Blanche up to the Hoffman House one evening, where they have swell music, and you see a lot of swells. You’ll have a swell time, Dulce.”
"Cậu đùa đấy à!" Sadie thốt lên, đầy ngưỡng mộ. "Chà, cậu thật may mắn đấy. Piggy sang trọng lắm; và anh ta luôn đưa con gái đến những chỗ sang trọng. Anh ta từng đưa Blanche đến khách sạn Hoffman một tối, nơi có nhạc sang trọng, và cậu thấy toàn người sang trọng. Cậu sẽ có một buổi tối sang trọng đấy, Dulce."
Dulcie hurried homeward. Her eyes were shining, and her cheeks showed the delicate pink of life’s—real life’s—approaching dawn. It was Friday; and she had fifty cents left of her last week’s wages.
Dulcie vội vã về nhà. Đôi mắt cô sáng lên, và đôi má cô ánh lên sắc hồng tinh tế của buổi bình minh — buổi bình minh thật sự — của cuộc đời sắp đến. Hôm đó là thứ Sáu; và cô còn lại năm mươi xu từ tiền lương tuần trước.
The streets were filled with the rush-hour floods of people. The electric lights of Broadway were glowing—calling moths from miles, from leagues, from hundreds of leagues out of darkness around to come in and attend the singeing school. Men in accurate clothes, with faces like those carved on cherry stones by the old salts in sailors’ homes, turned and stared at Dulcie as she sped, unheeding, past them. Manhattan, the night-blooming cereus, was beginning to unfold its dead-white, heavy-odoured petals.
Đường phố tràn ngập dòng người giờ cao điểm. Những ngọn đèn điện trên Broadway đang tỏa sáng — gọi những con thiêu thân từ hàng dặm, từ hàng chục dặm, từ hàng trăm dặm bóng tối xung quanh đến để tham gia lớp học bị thiêu cháy. Những người đàn ông ăn mặc chỉn chu, với gương mặt như những gương mặt được khắc trên hạt anh đào bởi những lão thủy thủ già trong viện dưỡng lão thủy thủ, quay lại nhìn chằm chằm Dulcie khi cô lướt qua, không để ý, ngang qua họ. Manhattan, đóa hoa quỳnh nở đêm, đang bắt đầu hé mở những cánh hoa trắng xám, nặng mùi của mình.
Dulcie stopped in a store where goods were cheap and bought an imitation lace collar with her fifty cents. That money was to have been spent otherwise—fifteen cents for supper, ten cents for breakfast, ten cents for lunch. Another dime was to be added to her small store of savings; and five cents was to be squandered for licorice drops—the kind that made your cheek look like the toothache, and last as long. The licorice was an extravagance—almost a carouse—but what is life without pleasures?
Dulcie ghé vào một cửa hàng bán hàng giá rẻ và mua một chiếc cổ áo ren giả bằng năm mươi xu của mình. Số tiền đó lẽ ra đã được dùng vào việc khác — mười lăm xu cho bữa tối, mười xu cho bữa sáng, mười xu cho bữa trưa. Thêm một đồng mười xu nữa lẽ ra sẽ được thêm vào khoản tiết kiệm nhỏ của cô; và năm xu lẽ ra sẽ được tiêu xài phung phí vào kẹo cam thảo — loại kẹo khiến má bạn trông như bị đau răng, và kéo dài lâu như vậy. Kẹo cam thảo là một sự xa xỉ — gần như một cuộc truy hoan — nhưng cuộc đời mà không có thú vui thì còn gì?
Dulcie lived in a furnished room. There is this difference between a furnished room and a boarding-house. In a furnished room, other people do not know it when you go hungry.
Dulcie sống trong một căn phòng có sẵn đồ đạc. Có sự khác biệt này giữa một căn phòng có sẵn đồ đạc và một nhà trọ có ăn uống. Trong căn phòng có sẵn đồ đạc, người khác không biết được khi bạn bị đói.
Dulcie went up to her room—the third floor back in a West Side brownstone-front. She lit the gas. Scientists tell us that the diamond is the hardest substance known. Their mistake. Landladies know of a compound beside which the diamond is as putty. They pack it in the tips of gas-burners; and one may stand on a chair and dig at it in vain until one’s fingers are pink and bruised. A hairpin will not remove it; therefore let us call it immovable.
Dulcie đi lên phòng mình — tầng ba phía sau trong một tòa nhà đá nâu ở West Side. Cô thắp đèn ga. Các nhà khoa học nói với chúng ta rằng kim cương là chất cứng nhất được biết đến. Họ nhầm rồi. Các bà chủ nhà trọ biết đến một hợp chất mà bên cạnh nó kim cương chỉ như đất sét. Họ nhét nó vào đầu mũi đèn ga; và người ta có thể đứng trên ghế và cạy nó vô ích cho đến khi ngón tay đỏ và bầm dập. Cây kẹp tóc cũng không lấy được nó ra; vậy nên hãy gọi nó là bất động.
So Dulcie lit the gas. In its one-fourth-candlepower glow we will observe the room.
Vậy là Dulcie thắp đèn ga. Trong ánh sáng leo lét một phần tư nến của nó, ta sẽ quan sát căn phòng.
Couch-bed, dresser, table, washstand, chair—of this much the landlady was guilty. The rest was Dulcie’s. On the dresser were her treasures—a gilt china vase presented to her by Sadie, a calendar issued by a pickle works, a book on the divination of dreams, some rice powder in a glass dish, and a cluster of artificial cherries tied with a pink ribbon.
Giường ghế bành, tủ có gương, bàn, chậu rửa mặt, ghế — chỉ chừng đó là do bà chủ nhà cung cấp. Phần còn lại là của Dulcie. Trên tủ có gương là những báu vật của cô — một chiếc bình sứ mạ vàng do Sadie tặng, một tấm lịch do một xưởng làm dưa chua phát hành, một cuốn sách về đoán mộng, một ít phấn gạo trong một đĩa thủy tinh, và một chùm anh đào giả buộc bằng dải ruy băng hồng.
Against the wrinkly mirror stood pictures of General Kitchener, William Muldoon, the Duchess of Marlborough, and Benvenuto Cellini. Against one wall was a plaster of Paris plaque of an O’Callahan in a Roman helmet. Near it was a violent oleograph of a lemon-coloured child assaulting an inflammatory butterfly. This was Dulcie’s final judgment in art; but it had never been upset. Her rest had never been disturbed by whispers of stolen copes; no critic had elevated his eyebrows at her infantile entomologist.
Dựa vào tấm gương nhăn nheo là những bức ảnh của Tướng Kitchener, William Muldoon, Nữ Công tước xứ Marlborough, và Benvenuto Cellini. Trên một bức tường là một tấm phù điêu thạch cao hình một O'Callahan đội mũ trận La Mã. Gần đó là một bức tranh dầu in thô bạo vẽ một đứa trẻ da vàng chanh đang tấn công một con bướm sặc sỡ. Đó là phán quyết nghệ thuật cuối cùng của Dulcie; nhưng nó chưa bao giờ bị lật đổ. Giấc ngủ của cô chưa từng bị quấy rầy bởi những lời thì thầm về áo choàng bị đánh cắp; chưa nhà phê bình nào từng nhướng mày trước nhà côn trùng học ngây thơ của cô.
Piggy was to call for her at seven. While she swiftly makes ready, let us discreetly face the other way and gossip.
Piggy sẽ đến đón cô lúc bảy giờ. Trong lúc cô nhanh chóng sửa soạn, hãy để chúng ta lịch sự quay mặt đi hướng khác và nói chuyện phiếm.
For the room, Dulcie paid two dollars per week. On week-days her breakfast cost ten cents; she made coffee and cooked an egg over the gaslight while she was dressing. On Sunday mornings she feasted royally on veal chops and pineapple fritters at “Billy’s” restaurant, at a cost of twenty-five cents—and tipped the waitress ten cents. New York presents so many temptations for one to run into extravagance.
Về căn phòng, Dulcie trả hai đô la mỗi tuần. Vào các ngày trong tuần, bữa sáng của cô tốn mười xu; cô pha cà phê và nấu một quả trứng trên đèn ga trong lúc mặc đồ. Vào sáng Chủ nhật, cô ăn mừng thịnh soạn với sườn bê và bánh dứa chiên tại nhà hàng "Billy's," với giá hai mươi lăm xu — và cho người phục vụ mười xu tiền boa. New York có quá nhiều cám dỗ khiến người ta dễ sa vào xa xỉ.
She had her lunches in the department-store restaurant at a cost of sixty cents for the week; dinners were $1.05. The evening papers—show me a New Yorker going without his daily paper!—came to six cents; and two Sunday papers—one for the personal column and the other to read—were ten cents. The total amounts to $4.76. Now, one has to buy clothes, and—
Cô ăn trưa ở nhà hàng trong cửa hàng bách hóa với giá sáu mươi xu mỗi tuần; bữa tối là 1,05 đô la. Báo buổi tối — thử tìm xem có người New York nào không đọc báo hàng ngày! — tốn sáu xu; và hai tờ báo Chủ nhật — một để đọc mục tin riêng tư và tờ kia để đọc — tốn mười xu. Tổng cộng là 4,76 đô la. Bây giờ, người ta còn phải mua quần áo, và—
I give it up. I hear of wonderful bargains in fabrics, and of miracles performed with needle and thread; but I am in doubt. I hold my pen poised in vain when I would add to Dulcie’s life some of those joys that belong to woman by virtue of all the unwritten, sacred, natural, inactive ordinances of the equity of heaven. Twice she had been to Coney Island and had ridden the hobby-horses. ’Tis a weary thing to count your pleasures by summers instead of by hours.
Tôi chịu thua. Tôi nghe nói về những món hời tuyệt vời về vải vóc, và về những phép màu được tạo ra bằng kim và chỉ; nhưng tôi hoài nghi. Tôi giữ ngòi bút lơ lửng vô ích khi muốn thêm vào cuộc sống của Dulcie một chút niềm vui thuộc về người phụ nữ theo mọi điều luật bất thành văn, thiêng liêng, tự nhiên, thụ động của lẽ công bằng nơi thiên đường. Hai lần cô đã đến Coney Island và cưỡi ngựa gỗ. Thật mệt mỏi khi phải đếm những niềm vui của mình theo mùa hè thay vì theo giờ.
Piggy needs but a word. When the girls named him, an undeserving stigma was cast upon the noble family of swine. The words-of-three-letters lesson in the old blue spelling book begins with Piggy’s biography. He was fat; he had the soul of a rat, the habits of a bat, and the magnanimity of a cat … He wore expensive clothes; and was a connoisseur in starvation.
Piggy chỉ cần vài lời là đủ. Khi các cô gái đặt tên đó cho hắn, một sự sỉ nhục không đáng có đã giáng lên dòng họ cao quý của loài lợn. Bài học chữ ba âm tiết trong cuốn sách vần cũ bìa xanh bắt đầu bằng tiểu sử của Piggy. Hắn béo; hắn có tâm hồn của một con chuột, thói quen của một con dơi, và lòng độ lượng của một con mèo… Hắn mặc quần áo đắt tiền; và là một người sành sỏi trong việc bỏ đói người khác.
He could look at a shop-girl and tell you to an hour how long it had been since she had eaten anything more nourishing than marshmallows and tea. He hung about the shopping districts, and prowled around in department stores with his invitations to dinner. Men who escort dogs upon the streets at the end of a string look down upon him. He is a type; I can dwell upon him no longer; my pen is not the kind intended for him; I am no carpenter.
Hắn có thể nhìn một cô gái bán hàng và nói cho bạn biết chính xác đến từng giờ cô ấy đã bao lâu chưa ăn thứ gì bổ dưỡng hơn kẹo dẻo và trà. Hắn lảng vảng quanh các khu mua sắm, và rình mò trong các cửa hàng bách hóa với những lời mời đi ăn tối. Ngay cả những người dắt chó đi dạo trên phố bằng dây xích cũng khinh thường hắn. Hắn là một mẫu người điển hình; tôi không thể nán lại bàn về hắn lâu hơn nữa; ngòi bút của tôi không dành cho loại người đó; tôi không phải thợ mộc.
At ten minutes to seven Dulcie was ready. She looked at herself in the wrinkly mirror. The reflection was satisfactory. The dark blue dress, fitting without a wrinkle, the hat with its jaunty black feather, the but-slightly-soiled gloves—all representing self-denial, even of food itself—were vastly becoming.
Mười phút trước bảy giờ, Dulcie đã sẵn sàng. Cô nhìn mình trong tấm gương nhăn nheo. Hình ảnh phản chiếu thật vừa ý. Chiếc váy xanh đậm, vừa vặn không một nếp nhăn, chiếc mũ với chiếc lông vũ đen kiêu hãnh, đôi găng tay hơi bẩn một chút — tất cả đều là kết quả của sự tự khước từ, kể cả việc ăn uống — trông rất hợp với cô.
Dulcie forgot everything else for a moment except that she was beautiful, and that life was about to lift a corner of its mysterious veil for her to observe its wonders. No gentleman had ever asked her out before. Now she was going for a brief moment into the glitter and exalted show.
Trong giây lát, Dulcie quên hết mọi thứ khác ngoại trừ việc cô xinh đẹp, và rằng cuộc đời sắp vén một góc tấm màn bí ẩn của nó để cô chiêm ngưỡng những kỳ diệu. Chưa có quý ông nào từng mời cô đi chơi trước đây. Giờ đây cô sắp bước vào, dù chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi, sự lấp lánh và phô trương cao sang.
The girls said that Piggy was a “spender.” There would be a grand dinner, and music, and splendidly dressed ladies to look at, and things to eat that strangely twisted the girls’ jaws when they tried to tell about them. No doubt she would be asked out again. There was a blue pongee suit in a window that she knew—by saving twenty cents a week instead of ten, in—let’s see—Oh, it would run into years! But there was a second-hand store in Seventh Avenue where—
Các cô gái nói rằng Piggy là kẻ "tiêu xài rộng rãi." Sẽ có một bữa tối thịnh soạn, và âm nhạc, và những quý bà ăn mặc lộng lẫy để ngắm nhìn, và những món ăn khiến hàm các cô gái phải méo xệch một cách kỳ lạ khi họ cố kể lại về chúng. Chắc chắn cô sẽ được mời đi chơi lần nữa. Có một bộ đồ lụa pongee màu xanh trong một cửa hàng mà cô biết — nếu tiết kiệm hai mươi xu mỗi tuần thay vì mười, thì trong — để xem — Ồ, sẽ mất nhiều năm! Nhưng có một cửa hàng đồ cũ trên Đại lộ Bảy nơi mà—
Somebody knocked at the door. Dulcie opened it. The landlady stood there with a spurious smile, sniffing for cooking by stolen gas.
Có người gõ cửa. Dulcie mở cửa. Bà chủ nhà đứng đó với nụ cười giả tạo, hít hà mùi nấu ăn bằng ga trộm.
“A gentleman’s downstairs to see you,” she said. “Name is Mr. Wiggins.”
"Có một quý ông ở dưới lầu muốn gặp cô," bà nói. "Tên là ông Wiggins."
By such epithet was Piggy known to unfortunate ones who had to take him seriously.
Đó là biệt danh mà những người bất hạnh phải xem trọng Piggy dùng để gọi hắn.
Dulcie turned to the dresser to get her handkerchief; and then she stopped still, and bit her underlip hard. While looking in her mirror she had seen fairyland and herself, a princess, just awakening from a long slumber. She had forgotten one that was watching her with sad, beautiful, stern eyes—the only one there was to approve or condemn what she did. Straight and slender and tall, with a look of sorrowful reproach on his handsome, melancholy face, General Kitchener fixed his wonderful eyes on her out of his gilt photograph frame on the dresser.
Dulcie quay sang tủ để lấy khăn tay; rồi cô đứng sững lại, và cắn chặt môi dưới. Trong lúc soi gương, cô đã thấy xứ sở thần tiên và chính mình, một nàng công chúa, vừa mới tỉnh giấc sau một giấc ngủ dài. Cô đã quên mất một người đang nhìn cô với ánh mắt buồn bã, đẹp đẽ, nghiêm khắc — người duy nhất ở đó để chấp thuận hay lên án những gì cô làm. Thẳng thắn, mảnh mai và cao lớn, với vẻ trách móc buồn bã trên gương mặt đẹp trai, u sầu, Tướng Kitchener gắn chặt đôi mắt tuyệt vời của mình vào cô từ trong khung ảnh mạ vàng trên tủ.
Dulcie turned like an automatic doll to the landlady.
Dulcie quay lại như một con búp bê máy về phía bà chủ nhà.
“Tell him I can’t go,” she said dully. “Tell him I’m sick, or something. Tell him I’m not going out.”
"Nói với anh ta là tôi không đi được," cô nói đờ đẫn. "Nói tôi bị ốm, hay gì đó. Nói tôi không đi ra ngoài."
After the door was closed and locked, Dulcie fell upon her bed, crushing her black tip, and cried for ten minutes. General Kitchener was her only friend. He was Dulcie’s ideal of a gallant knight. He looked as if he might have a secret sorrow, and his wonderful moustache was a dream, and she was a little afraid of that stern yet tender look in his eyes. She used to have little fancies that he would call at the house sometime, and ask for her, with his sword clanking against his high boots. Once, when a boy was rattling a piece of chain against a lamp-post she had opened the window and looked out.
Sau khi cửa đã đóng và khóa lại, Dulcie ngã xuống giường, làm nát chiếc lông đen của mình, và khóc suốt mười phút. Tướng Kitchener là người bạn duy nhất của cô. Ông là hình mẫu lý tưởng của Dulcie về một hiệp sĩ hào hoa. Ông trông như thể mang một nỗi buồn thầm kín, và bộ ria mép tuyệt vời của ông là một giấc mơ, và cô hơi sợ ánh mắt nghiêm khắc mà vẫn dịu dàng đó trong mắt ông. Cô từng có những ảo tưởng nhỏ rằng có ngày ông sẽ ghé qua nhà, hỏi thăm cô, với thanh kiếm va lách cách vào đôi ủng cao của ông. Có lần, khi một cậu bé rung một đoạn xích vào cột đèn, cô đã mở cửa sổ và nhìn ra ngoài.
But there was no use. She knew that General Kitchener was away over in Japan, leading his army against the savage Turks; and he would never step out of his gilt frame for her. Yet one look from him had vanquished Piggy that night. Yes, for that night.
Nhưng chẳng ích gì. Cô biết rằng Tướng Kitchener đang ở tận Nhật Bản, dẫn quân đội của mình chống lại người Thổ man rợ; và ông sẽ không bao giờ bước ra khỏi khung ảnh mạ vàng vì cô. Vậy mà một ánh nhìn từ ông đã đánh bại Piggy đêm đó. Vâng, ít nhất là đêm đó.
When her cry was over Dulcie got up and took off her best dress, and put on her old blue kimono. She wanted no dinner. She sang two verses of “Sammy.” Then she became intensely interested in a little red speck on the side of her nose. And after that was attended to, she drew up a chair to the rickety table, and told her fortune with an old deck of cards.
Khi khóc xong, Dulcie đứng dậy và cởi bộ váy đẹp nhất của mình, và mặc chiếc áo kimono xanh cũ. Cô không muốn ăn tối. Cô hát hai đoạn của bài "Sammy." Rồi cô trở nên vô cùng quan tâm đến một đốm đỏ nhỏ trên sống mũi mình. Và sau khi xử lý xong chuyện đó, cô kéo một chiếc ghế đến bên chiếc bàn ọp ẹp, và bói bài với một bộ bài cũ.
“The horrid, impudent thing!” she said aloud. “And I never gave him a word or a look to make him think it!”
"Cái đồ đáng ghét, trơ trẽn!" cô nói to. "Vậy mà mình chưa từng nói một lời hay ánh mắt nào khiến hắn nghĩ vậy!"
At nine o’clock Dulcie took a tin box of crackers and a little pot of raspberry jam out of her trunk, and had a feast. She offered General Kitchener some jam on a cracker; but he only looked at her as the sphinx would have looked at a butterfly—if there are butterflies in the desert.
Lúc chín giờ, Dulcie lấy một hộp bánh quy giòn và một hũ nhỏ mứt mâm xôi từ rương của mình ra, và tổ chức một bữa tiệc. Cô mời Tướng Kitchener một ít mứt trên bánh quy; nhưng ông chỉ nhìn cô như con nhân sư sẽ nhìn một con bướm — nếu có bướm trong sa mạc.
“Don’t eat it if you don’t want to,” said Dulcie. “And don’t put on so many airs and scold so with your eyes. I wonder if you’d be so superior and snippy if you had to live on six dollars a week.”
"Không thích thì đừng ăn," Dulcie nói. "Và đừng làm bộ làm tịch nhiều thế, đừng mắng mỏ bằng ánh mắt như vậy. Không biết ông có còn cao ngạo và cáu kỉnh như thế không nếu phải sống với sáu đô la một tuần."
It was not a good sign for Dulcie to be rude to General Kitchener. And then she turned Benvenuto Cellini face downward with a severe gesture. But that was not inexcusable; for she had always thought he was Henry VIII, and she did not approve of him.
Đó không phải là dấu hiệu tốt khi Dulcie lại thô lỗ với Tướng Kitchener. Rồi cô lật úp bức ảnh Benvenuto Cellini xuống với một cử chỉ nghiêm khắc. Nhưng điều đó cũng có thể tha thứ được; vì cô vẫn luôn nghĩ ông ta là Henry VIII, và cô không ưa ông ta.
At half-past nine Dulcie took a last look at the pictures on the dresser, turned out the light, and skipped into bed. It’s an awful thing to go to bed with a good-night look at General Kitchener, William Muldoon, the Duchess of Marlborough, and Benvenuto Cellini. This story really doesn’t get anywhere at all. The rest of it comes later—sometime when Piggy asks Dulcie again to dine with him, and she is feeling lonelier than usual, and General Kitchener happens to be looking the other way; and then—
Lúc chín rưỡi, Dulcie nhìn lần cuối các bức ảnh trên tủ, tắt đèn, và nhảy vào giường. Thật là một điều kinh khủng khi đi ngủ với ánh mắt chúc ngủ ngon dành cho Tướng Kitchener, William Muldoon, Nữ Công tước xứ Marlborough, và Benvenuto Cellini. Câu chuyện này thật ra chẳng đi đến đâu cả. Phần còn lại sẽ đến sau — vào lúc nào đó khi Piggy lại mời Dulcie đi ăn tối cùng hắn, và cô cảm thấy cô đơn hơn thường lệ, và Tướng Kitchener tình cờ đang nhìn sang hướng khác; và rồi—
As I said before, I dreamed that I was standing near a crowd of prosperous-looking angels, and a policeman took me by the wing and asked if I belonged with them.
Như tôi đã nói trước đó, tôi mơ thấy mình đang đứng gần một đám đông những thiên thần trông sung túc, và một viên cảnh sát nắm lấy cánh tôi và hỏi tôi có thuộc về nhóm đó không.
“Who are they?” I asked.
"Họ là ai vậy?" tôi hỏi.
“Why,” said he, “they are the men who hired working-girls, and paid ’em five or six dollars a week to live on. Are you one of the bunch?”
"À," anh ta nói, "họ là những kẻ đã thuê các cô gái đi làm, và trả cho họ năm hay sáu đô la một tuần để sống. Anh có thuộc nhóm đó không?"
“Not on your immortality,” said I. “I’m only the fellow that set fire to an orphan asylum, and murdered a blind man for his pennies.”
"Đừng có mơ," tôi nói. "Tôi chỉ là gã đã phóng hỏa đốt một trại trẻ mồ côi, và giết một người mù để cướp mấy đồng xu của ông ta thôi."