The Tale of Jemima Puddle-Duck
A free B1-level English story for language learners, readable online in 7 languages, with an option to listen via the free Storyteller app.
A duck determined to hatch her own eggs is charmed by a smooth-talking fox with dangerous intentions.
What a funny sight it is to see a brood of ducklings with a hen!
Thật là một cảnh tượng buồn cười khi thấy một đàn vịt con đi theo một con gà mái!
—Listen to the story of Jemima Puddle-duck, who was annoyed because the farmer's wife would not let her hatch her own eggs.
—Hãy lắng nghe câu chuyện về Jemima Puddle-duck, cô nàng bực bội vì bà chủ trại không cho cô tự ấp trứng của mình.
Her sister-in-law, Mrs. Rebeccah Puddle-duck, was perfectly willing to leave the hatching to some one else—"I have not the patience to sit on a nest for twenty-eight days; and no more have you, Jemima. You would let them go cold; you know you would!"
Chị dâu của cô, bà Rebeccah Puddle-duck, thì lại hoàn toàn sẵn lòng để việc ấp trứng cho người khác lo—"Tôi chẳng đủ kiên nhẫn để ngồi trên ổ trứng suốt hai mươi tám ngày đâu; và cô cũng vậy thôi, Jemima. Cô sẽ để trứng bị lạnh mất thôi; cô biết rõ điều đó mà!"
"I wish to hatch my own eggs; I will hatch them all by myself," quacked Jemima Puddle-duck.
"Tôi muốn tự ấp trứng của mình; tôi sẽ tự mình ấp hết," Jemima Puddle-duck kêu quàng quạc.
She tried to hide her eggs; but they were always found and carried off.
Cô cố giấu trứng của mình đi; nhưng lần nào cũng bị tìm thấy và mang đi mất.
Jemima Puddle-duck became quite desperate. She determined to make a nest right away from the farm.
Jemima Puddle-duck trở nên vô cùng tuyệt vọng. Cô quyết định làm một cái ổ thật xa nông trại.
She set off on a fine spring afternoon along the cart-road that leads over the hill.
Cô lên đường vào một buổi chiều mùa xuân đẹp trời, đi dọc theo con đường xe ngựa dẫn qua ngọn đồi.
She was wearing a shawl and a poke bonnet.
Cô khoác một chiếc khăn choàng và đội một chiếc mũ vành rộng.
When she reached the top of the hill, she saw a wood in the distance.
Khi lên đến đỉnh đồi, cô nhìn thấy một khu rừng ở đằng xa.
She thought that it looked a safe quiet spot.
Cô nghĩ rằng nơi đó trông có vẻ an toàn và yên tĩnh.
Jemima Puddle-duck was not much in the habit of flying. She ran downhill a few yards flapping her shawl, and then she jumped off into the air.
Jemima Puddle-duck vốn không quen bay lắm. Cô chạy xuống dốc vài bước, vỗ vỗ chiếc khăn choàng, rồi bật nhảy lên không trung.
She flew beautifully when she had got a good start.
Cô bay rất đẹp khi đã lấy đà tốt.
She skimmed along over the tree-tops until she saw an open place in the middle of the wood, where the trees and brushwood had been cleared.
Cô lướt qua các ngọn cây cho đến khi thấy một khoảng trống ở giữa khu rừng, nơi cây cối và bụi rậm đã được phát quang.
Jemima alighted rather heavily, and began to waddle about in search of a convenient dry nesting-place. She rather fancied a tree-stump amongst some tall fox-gloves.
Jemima đáp xuống khá nặng nề, rồi bắt đầu lạch bạch đi tìm một chỗ làm ổ khô ráo thuận tiện. Cô khá thích một gốc cây giữa đám hoa mao địa hoàng cao lớn.
But—seated upon the stump, she was startled to find an elegantly dressed gentleman reading a newspaper.
Nhưng—khi ngồi lên gốc cây, cô giật mình phát hiện một quý ông ăn mặc lịch lãm đang đọc báo.
He had black prick ears and sandy coloured whiskers.
Ông ta có đôi tai đen vểnh nhọn và bộ ria màu hung đỏ.
"Quack?" said Jemima Puddle-duck, with her head and her bonnet on one side—"Quack?"
"Quạc?" Jemima Puddle-duck nói, đầu và chiếc mũ nghiêng sang một bên—"Quạc?"
The gentleman raised his eyes above his newspaper and looked curiously at Jemima—
Vị quý ông ngước mắt lên khỏi tờ báo và tò mò nhìn Jemima—
"Madam, have you lost your way?" said he. He had a long bushy tail which he was sitting upon, as the stump was somewhat damp.
"Thưa quý bà, bà bị lạc đường sao?" ông ta hỏi. Ông có một cái đuôi dài rậm rạp mà ông đang ngồi đè lên, vì gốc cây có phần hơi ẩm ướt.
Jemima thought him mighty civil and handsome. She explained that she had not lost her way, but that she was trying to find a convenient dry nesting-place.
Jemima nghĩ ông ta thật lịch sự và đẹp trai. Cô giải thích rằng mình không hề bị lạc đường, mà đang cố tìm một chỗ làm ổ khô ráo thuận tiện.
"Ah! is that so? indeed!" said the gentleman with sandy whiskers, looking curiously at Jemima. He folded up the newspaper, and put it in his coat-tail pocket.
"À! Vậy sao? Thật thú vị!" vị quý ông có bộ ria màu hung đỏ nói, tò mò nhìn Jemima. Ông gấp tờ báo lại, rồi nhét vào túi sau áo đuôi tôm.
Jemima complained of the superfluous hen.
Jemima than phiền về con gà mái phiền phức kia.
"Indeed! how interesting! I wish I could meet with that fowl. I would teach it to mind its own business!"
"Thật vậy sao! Thú vị quá đi mất! Ước gì tôi có thể gặp con gà đó. Tôi sẽ dạy cho nó biết lo chuyện của mình thôi!"
"But as to a nest—there is no difficulty: I have a sackful of feathers in my wood-shed. No, my dear madam, you will be in nobody's way. You may sit there as long as you like," said the bushy long-tailed gentleman.
"Nhưng còn về chuyện làm ổ—thì chẳng có gì khó khăn cả: tôi có cả một bao lông vũ trong nhà kho củi của mình. Không, thưa quý bà thân mến, bà sẽ chẳng làm phiền ai cả. Bà có thể ngồi đó bao lâu tùy thích," vị quý ông rậm lông đuôi dài nói.
He led the way to a very retired, dismal-looking house amongst the fox-gloves.
Ông dẫn đường đến một căn nhà hẻo lánh, trông ảm đạm, nằm giữa đám hoa mao địa hoàng.
It was built of faggots and turf, and there were two broken pails, one on top of another, by way of a chimney.
Nó được xây bằng bó củi và đất than bùn, và có hai cái xô vỡ, cái này chồng lên cái kia, dùng làm ống khói.
"This is my summer residence; you would not find my earth—my winter house—so convenient," said the hospitable gentleman.
"Đây là nhà nghỉ mùa hè của tôi; bà sẽ thấy hang của tôi—ngôi nhà mùa đông của tôi—không được tiện nghi bằng đâu," vị quý ông hiếu khách nói.
There was a tumble-down shed at the back of the house, made of old soap-boxes. The gentleman opened the door, and showed Jemima in.
Phía sau nhà có một cái chòi xiêu vẹo, làm bằng những hộp xà phòng cũ. Vị quý ông mở cửa, mời Jemima vào trong.
The shed was almost quite full of feathers—it was almost suffocating; but it was comfortable and very soft.
Cái chòi gần như đầy ắp lông vũ—ngột ngạt đến mức khó thở; nhưng lại thoải mái và rất êm ái.
Jemima Puddle-duck was rather surprised to find such a vast quantity of feathers. But it was very comfortable; and she made a nest without any trouble at all.
Jemima Puddle-duck khá ngạc nhiên khi thấy có nhiều lông vũ đến vậy. Nhưng nó rất thoải mái; và cô làm ổ chẳng chút khó khăn nào cả.
When she came out, the sandy whiskered gentleman was sitting on a log reading the newspaper—at least he had it spread out, but he was looking over the top of it.
Khi cô bước ra, vị quý ông ria hung đỏ đang ngồi trên một khúc gỗ đọc báo—ít nhất là ông đang mở tờ báo ra, nhưng lại đang liếc nhìn qua phía trên tờ báo.
He was so polite, that he seemed almost sorry to let Jemima go home for the night. He promised to take great care of her nest until she came back again next day.
Ông lịch sự đến mức dường như tiếc nuối khi để Jemima về nhà tối hôm đó. Ông hứa sẽ trông coi cẩn thận cái ổ của cô cho đến khi cô quay lại vào ngày hôm sau.
He said he loved eggs and ducklings; he should be proud to see a fine nestful in his wood-shed.
Ông nói ông rất thích trứng và vịt con; ông sẽ tự hào lắm khi thấy một ổ đầy trứng trong nhà kho củi của mình.
Jemima Puddle-duck came every afternoon; she laid nine eggs in the nest. They were greeny white and very large. The foxy gentleman admired them immensely. He used to turn them over and count them when Jemima was not there.
Jemima Puddle-duck đến mỗi buổi chiều; cô đẻ được chín quả trứng trong ổ. Chúng có màu trắng xanh và rất to. Vị quý ông ranh mãnh vô cùng thán phục chúng. Ông thường lật chúng qua lại và đếm chúng mỗi khi Jemima không có ở đó.
At last Jemima told him that she intended to begin to sit next day—"and I will bring a bag of corn with me, so that I need never leave my nest until the eggs are hatched. They might catch cold," said the conscientious Jemima.
Cuối cùng Jemima nói với ông rằng cô định bắt đầu ấp trứng vào ngày hôm sau—"và tôi sẽ mang theo một túi ngũ cốc, để tôi không bao giờ phải rời khỏi ổ cho đến khi trứng nở. Chúng có thể bị lạnh mất," Jemima tận tâm nói.
"Madam, I beg you not to trouble yourself with a bag; I will provide oats. But before you commence your tedious sitting, I intend to give you a treat. Let us have a dinner-party all to ourselves!
"Thưa quý bà, xin đừng bận tâm mang theo túi làm gì; tôi sẽ lo liệu yến mạch cho bà. Nhưng trước khi bà bắt đầu công việc ấp trứng nhàm chán ấy, tôi muốn chiêu đãi bà một bữa. Chúng ta hãy cùng nhau tổ chức một bữa tiệc tối nhé!
"May I ask you to bring up some herbs from the farm-garden to make a savoury omelette? Sage and thyme, and mint and two onions, and some parsley. I will provide lard for the stuff—lard for the omelette," said the hospitable gentleman with sandy whiskers.
"Tôi có thể nhờ bà mang lên vài loại rau thơm từ vườn nông trại để làm món trứng ốp la thơm ngon được không? Xô thơm và cỏ xạ hương, bạc hà và hai củ hành, cùng một ít mùi tây. Tôi sẽ lo liệu mỡ heo cho món nhồi—mỡ heo cho món trứng ốp la," vị quý ông hiếu khách có bộ ria màu hung đỏ nói.
Jemima Puddle-duck was a simpleton: not even the mention of sage and onions made her suspicious.
Jemima Puddle-duck là một cô nàng khờ khạo: ngay cả khi nghe nhắc đến xô thơm và hành, cô cũng chẳng mảy may nghi ngờ gì.
She went round the farm-garden, nibbling off snippets of all the different sorts of herbs that are used for stuffing roast duck.
Cô đi khắp vườn nông trại, gặm những mẩu nhỏ của đủ loại rau thơm thường dùng để nhồi vào vịt quay.
And she waddled into the kitchen, and got two onions out of a basket.
Rồi cô lạch bạch vào bếp, lấy hai củ hành ra khỏi một cái rổ.
The collie-dog Kep met her coming out, "What are you doing with those onions? Where do you go every afternoon by yourself, Jemima Puddle-duck?"
Chú chó chăn cừu Kep gặp cô đang đi ra, "Cô làm gì với mấy củ hành đó vậy? Chiều nào cô cũng đi đâu một mình vậy, Jemima Puddle-duck?"
Jemima was rather in awe of the collie; she told him the whole story.
Jemima khá nể sợ chú chó chăn cừu; cô kể hết mọi chuyện cho chú nghe.
The collie listened, with his wise head on one side; he grinned when she described the polite gentleman with sandy whiskers.
Chú chó lắng nghe, đầu nghiêng sang một bên đầy vẻ khôn ngoan; chú cười nhăn nhở khi cô mô tả về vị quý ông lịch sự có bộ ria màu hung đỏ.
He asked several questions about the wood, and about the exact position of the house and shed.
Chú hỏi thêm vài câu về khu rừng, và về vị trí chính xác của căn nhà và cái chòi.
Then he went out, and trotted down the village. He went to look for two fox-hound puppies who were out at walk with the butcher.
Rồi chú đi ra ngoài, chạy lon ton xuống làng. Chú đi tìm hai chú chó săn cáo con đang đi dạo cùng người bán thịt.
Jemima Puddle-duck went up the cart-road for the last time, on a sunny afternoon. She was rather burdened with bunches of herbs and two onions in a bag.
Jemima Puddle-duck đi lên con đường xe ngựa lần cuối cùng, vào một buổi chiều nắng đẹp. Cô hơi nặng nhọc vì mang theo những bó rau thơm và hai củ hành trong một cái túi.
She flew over the wood, and alighted opposite the house of the bushy long-tailed gentleman.
Cô bay qua khu rừng, rồi đáp xuống đối diện căn nhà của vị quý ông rậm lông đuôi dài.
He was sitting on a log; he sniffed the air, and kept glancing uneasily round the wood. When Jemima alighted he quite jumped.
Ông đang ngồi trên một khúc gỗ; ông hít hít không khí, và cứ liếc nhìn quanh khu rừng đầy bất an. Khi Jemima đáp xuống, ông giật bắn cả người.
"Come into the house as soon as you have looked at your eggs. Give me the herbs for the omelette. Be sharp!"
"Vào nhà ngay sau khi bà xem trứng xong. Đưa rau thơm làm món trứng ốp la cho tôi. Nhanh lên!"
He was rather abrupt. Jemima Puddle-duck had never heard him speak like that.
Ông ta khá cộc cằn. Jemima Puddle-duck chưa bao giờ nghe ông nói như vậy cả.
She felt surprised, and uncomfortable.
Cô cảm thấy ngạc nhiên, và không thoải mái chút nào.
While she was inside she heard pattering feet round the back of the shed. Some one with a black nose sniffed at the bottom of the door, and then locked it.
Trong lúc cô đang ở bên trong, cô nghe thấy tiếng chân lộp cộp quanh phía sau cái chòi. Có ai đó với chiếc mũi đen đánh hơi ở dưới chân cửa, rồi khóa cửa lại.
Jemima became much alarmed.
Jemima trở nên vô cùng hoảng sợ.
A moment afterwards there were most awful noises—barking, baying, growls and howls, squealing and groans.
Một lát sau vang lên những tiếng động khủng khiếp—tiếng sủa, tiếng gào, tiếng gầm gừ và tiếng tru, tiếng rú rít và tiếng rên rỉ.
And nothing more was ever seen of that foxy-whiskered gentleman.
Và từ đó chẳng ai còn thấy vị quý ông ria cáo ấy nữa.
Presently Kep opened the door of the shed, and let out Jemima Puddle-duck.
Chẳng mấy chốc, Kep mở cửa cái chòi, thả Jemima Puddle-duck ra.
Unfortunately the puppies rushed in and gobbled up all the eggs before he could stop them.
Thật không may, hai chú chó con xông vào ngấu nghiến hết cả trứng trước khi chú kịp ngăn lại.
He had a bite on his ear and both the puppies were limping.
Chú bị cắn vào tai một miếng, và cả hai chú chó con đều bị khập khiễng.
Jemima Puddle-duck was escorted home in tears on account of those eggs.
Jemima Puddle-duck được hộ tống về nhà trong nước mắt vì mất hết chỗ trứng ấy.
She laid some more in June, and she was permitted to keep them herself: but only four of them hatched.
Cô đẻ thêm vài quả nữa vào tháng Sáu, và lần này cô được phép tự giữ trứng của mình: nhưng chỉ có bốn quả nở được thôi.
Jemima Puddle-duck said that it was because of her nerves; but she had always been a bad sitter.
Jemima Puddle-duck bảo rằng đó là vì thần kinh cô yếu; nhưng thật ra cô vốn chưa bao giờ ấp trứng giỏi cả.